Tuesday, August 2, 2011

TỰ SẮC MISERICORDIA DEI



ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II
TỰ SẮC MISERICORDIA DEI
LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA
Về một vài phương diện của việc cử hành bí tích sám hối
Do lòng thương xót của Chúa, Chúa Cha Đấng giao hoà chúng ta với chính Người, Ngôi Lời đã mặc lấy xác phàm trong lòng thanh sạch của Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria để cứu “dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1, 21) và để mở rộng cho họ “con đường cứu độ đời đời”. (1) Bằng cách đồng hoá Chúa Giêsu như “Chiên Con của Chúa, Đấng xoá bỏ tội trần gian” (Ga 1, 29), Thánh Gioan Tẩy Giả khẳng định sứ vụ này.
Trong tất cả những việc làm và giảng dạy của người, vị Tiền Hô đưa ra một lời hiệu triệu sốt sắng và mãnh liệt phải sám hối và cải thiện, dấu chứng của sự đó là phép rửa trong nước sông Giođan. Chính Chúa Giêsu đã chịu nghi thức sám hối này (x. Mt 3, 13-17), không phải vì Người đã phạm tội, nhưng vì “Người bằng lòng để mình bị liệt vào số các tội nhân, Người đã là ‘Chiên Con của Chúa Đấng xoá bỏ tội lỗi thế gian’ (Ga 1, 29); Người đã thực hành trước phép ‘rửa’ sự chết đẫm máu của Người”. (2)
Sự cứu rỗi do đó và hơn hết là sự cứu khỏi tội, ngăn cản mối thân tình với Thiên Chúa, là một sự giải thoát khỏi tình trạng nô lệ mà con người cảm thấy mình gánh chịu kể từ khi sa ngã theo chước cám dỗ của Thần Dữ và làm mất quyền tự do con cái Thiên Chúa (x. Rm 8, 21).
Chúa Giêsu giao phó cho các Tông Đồ sứ vụ công bố Nước Thiên Chúa và rao giảng Tin Mừng hoán cải (x. Mc 16, 15 ; Mt 28, 18-20). Trong buổi chiều ngày Phục Sinh của Người, khi sứ vụ tông đồ gần bắt đầu, Chúa Giêsu ban cho các Tông Đồ, nhờ quyền phép Chúa Thánh Thần, thẩm quyền giao hoà những tội nhân sám hối với Thiên Chúa và với Giáo Hội: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần, anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20, 22-23). (3)
Dọc suốt lịch sử trong sự thực hành kiên định của Giáo Hội, “chức vụ hoà giải” (2 Cr 5, 18) được ban qua các Bí tích Rửa Tội và Sám Hối, luôn được xem như là một nhiệm vu mục vụ cần thiết và được đánh giá cao của thừa tác vụ linh mục, thực hiện vâng theo mệnh lệnh Chúa Giêsu. Qua các thế kỷ, việc cử hành Bí tích Sám Hối đã phát triển trong nhiều hình thức, nhưng nó vẫn giữ cũng một cấu trúc cơ bản: Bí tích này cần thiết lôi kéo theo không những hành động của thừa tác viên --chỉ một Giám mục hay linh mục, phán đoán và xá giải, săn sóc và chửa lành nhân danh Chúa Kitô-- nhưng còn các hành động của kẻ sám hối: sự ăn năn, sự xưng tội và làm việc đền tội.
Tôi đã viết trong Tông thư của tôi Novo Millennio Ineunte: “Tôi xin được lòng can đảm mới mục vụ để bảo đảm rằng huấn giáo hằng ngày cho các cộng đồng Kitô hữu trình bày việc thực hành Bí tích Hoà Giải cách thuyết phục và hiệu nghiệm. Như anh em nhớ, năm 1984 tôi đã đề cập tới vấn đề này trong Tông Thư Hậu Thương Hội Đồng Reconciliatio et Paenitentia, tóm kết những hoa quả của Khoá Họp khoáng đại Thượng Hội Đồng Giám Mục đã tận tụy cho vấn đề này.
Lúc đó lời mời của tôi là phải làm mọi cố gắng để đương đầu với cơn khủng hoảng về ‘cảm thức sự tội’ lộ rõ trong nền văn hoá ngày nay. Nhưng tôi còn khăng khăng kêu gọi một sự tái khám phá Chúa Kitô như là mầu nhiệm lòng lành (mysterium pietatis), nơi Người Thiên Chúa chứng tỏ lòng thương xót của Người và giao hoà trọn vẹn chúng ta với Người. Phải tái khám phá gương mặt này của Chúa Kitô qua bí tích Sám Hối, đối với người tín hữu bí tích này là ‘phương thế thông thường để được sự tha thứ và sự xoá bỏ các thứ tội nghiêm trọng đã phạm sau bí tích Rửa Tội’.
Khi Thượng Hội Đồng bàn tới vấn đề, mọi người đều thấy cơn khủng hoảng của Bí tích, cách riêng trong một số nơi thế giới. Những nguyên nhân của cơn khủng hoảng không biến mất trong thời gian ngắn từ đó. Nhưng Năm Thánh, được đánh dấu đặc biệt bằng sự trở lại với Bí tích Sám Hối, đã cho chúng ta một sứ điệp đầy an ủi, sứ điệp cần được biết: nếu nhiều người, và trong số đó cũng có nhiều người trẻ, đã được phúc lợi nhờ đến gần Bí tích này, thì điều có lẽ cần là các Mục Tử phải trang bị chính mình với niềm tin tưởng, khả năng sáng tạo và sự bền bỉ hơn trong việc giới thiệu và hướng dẫn người ta biết đánh giá cao bí tích này”. (4)
Với những lời này, tôi đã có ý, như tôi làm bây giờ, khuyến khích các Giám Mục anh em của tôi và tha thiết kêu gọi các ngài --và, qua các ngài, tất cả các linh mục--đem lại sức sống mãnh liệt cho Bí Tích Hoà Giải. Đây là một đòi hỏi của đức ái chân chính và của phép công bằng mục vụ thật, (5) và chúng ta phải nhớ rằng người tín hữu, khi họ có những khuynh hướng nội tâm thích đáng, thì họ có quyền nhận lãnh với tư cách cá nhân ân huệ bí tích.
Để thừa tác viên Bí Tích có thể biết những tâm trạng người sám hối, ngõ hầu ban hay từ chối việc giải tội và ra việc đền tội xứng hợp, thì điều cần là mọi người tín hữu, kèm theo sự ý thức về các tội mình phạm, về sự đau buồn vì tội và quyết chí không tái phạm, (6), cũng phải xưng ra các tội của mình. Theo nghĩa này, Công đồng Trente đã tuyên bố rằng cần “phải xưng từng tội và tất cả tội trọng theo luật Chúa”. (7)
Giáo Hội đã luôn thấy một sự liên kết thiết yếu giữa sự phán đoán trao cho linh mục trong Bí tích và sự cần thiết để các hối nhân nêu danh tội mình ra, (8) trừ khi không thể được. Do đó, vì sự xưng tội đầy đủ các tội nghiêm trọng theo luật Chúa là một phần tạo thành Bí tích, nên không cách nào phải tùy thuộc sự quyết định của các vị mục tử (chuẩn chước, giải thích, những tập quán địa phương, v.v…). Trong những điều khoản kỷ luật có liên quan, thẩm quyền Giáo Hội chuyên môn chỉ nêu rõ những tiêu chuẩn để phân biệt việc không thể xưng ra tội mình là có thật, với những hoàn cảnh mà việc không thể xưng tội này chỉ là giả tạo hay có thể thắng vượt được.
Trong những hoàn cảnh hiện nay của việc chăm sóc các linh hồn và để trả lời những thỉnh cầu liên quan của nhiều anh em trong chức Giám Mục, tôi thiết tưởng điều hữu ích là nhắc lại một số luật thuộc giáo luật đang thịnh hành đối với sự cử hành Bí tích này, và làm sáng tỏ một số phương diện những luật đó-- trong một tinh thần hiệp thông với trách nhiệm riêng của toàn thể chức Giám mục (9) để ban Bí tích này cách tốt hơn. Đó là một vấn đề bảo đảm việc cử hành trung thành hơn, và như vậy có hiệu quả hơn, (cử hành) một ân huệ Chúa Giêsu sau khi Phục sinh đã trao phó cho Giáo Hội
Điều này xem ra đặc biệt cần, vì trong một vài nơi có khuynh hướng bỏ việc xưng tội cá nhân và sử dụng cách sai lầm việc giải tội “chung” hay là “tập thể”. Trong trường hợp này việc giải tội không còn coi là một phương thế bất thường được sử dụng trong những hoàn cảnh hoàn toàn bất thường. Trên nền tảng một sự nới rộng tùy tiện những điều kiện đòi buộc khi có sự cần nghiêm trọng, (10) trên thực hành có sự kém trung thành đối với hình dạng thần linh của Bí tích và cách riêng đối với nhu cầu xưng tội cá nhân, sinh ra sự thiệt hại nghiêm trọng cho đời sống thiêng liêng và cho sự thánh thiện của Giáo Hội.
Như vậy, sau khi bàn hỏi Bộ Giáo Lý Đức Tin, Bộ Bí Tích và Phụng Tự, và Hội Đồng Giáo Hoàng về Văn Bản Pháp Luật, và sau khi nghe các quan điểm của các Hồng Y đáng kính phụ trách các cơ quan Giáo Triều Roma, và tái khẳng định giáo lý Công Giáo về Bí Tích Sám Hối và Hoà Giải theo như được tóm tắt trong sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, (11) ý thức trách nhiệm mục vụ của tôi và hiểu biết đầy đủ về sự cần thiết của Bí tích này và về tính hiệu quả lâu dài của nó, tôi ra sắc lệnh sau đây:
1. Các Đấng Thường quyền phải nhắc cho tất cả các thừa tác viên Bí tích Sám Hối rằng luật chung của Giáo Hội, ứng dụng Giáo Lý Công Giáo trong lãnh vực này, đã xác minh rằng:
a) “Việc xưng tội cá nhân và đầy đủ và việc giải tội, là phương thức bình thường duy nhất qua đó người tín hữu, biết mình mắc tội nặng, được giao hoà với Chúa và Giáo Hội; chỉ khi nào không có khả năng về thể lý và luân lý miễn khỏi sự xưng tội như thế, thì trong trường hợp ấy việc hoà giải có thể thực hiện bằng những cách khác”. (12)
b) Do đó, “tất cả những ai có bổn phận do thừa tác vụ của mình phải chăm sóc các linh hồn, buộc phải bảo đảm nghe xưng tội khi người tín hữu được trao phó cho mình xin cách hợp lý, và họ phải có cơ hội xưng tội cá nhân, vào những ngày và những thời gian được niêm yết thuận tiện cho họ”. (13)
Hơn nữa, tất cả các linh mục có năng quyền ban Bí tích Sám Hối phải luôn luôn tỏ ra sẵn sàng hết mình ban bí tích đó mỗi khi người tín hữu thỉnh cầu hợp lý. (14) Việc không muốn đón tiếp những con chiên bị thương tích, và có khi phải đi tới gặp chúng để đưa chúng về trong chuồng, có thể là một dấu chỉ đáng buồn vì thiếu sự nhạy cảm mục vụ nơi những người mà, do Bí Tích Truyền Chức Linh Mục, phải phản chiếu hình ảnh Đấng Chăn Chiên Lành.
2. Các Đấng Thường Quyền địa phương, và các linh mục giáo xứ và các giám đốc những nhà thờ và đền thờ, phải xác minh theo định kỳ rằng trên thực tế có dự liệu hết sức có thể cho giáo hữu xưng tội.
Khuyên cách riêng, ở những nơi thờ phượng các cha giải tội nên có mặt đúng những thời gian đã thông báo, những thời gian đó phải tương thích với những hoàn cảnh thực tế của hối nhân, và việc xưng tội phải được dễ dàng đặc biệt trước các Thánh lễ, và có khi trong Thánh lễ nếu có sẵn các linh mục khác, ngõ hầu đáp ứng nhu cầu của người tín hữu. (15)
3. Bởi vì “người tín hữu bị bắt buộc xưng, theo loại và số, tất cả các tội trọng đã phạm sau bí tích Rửa Tội, những tội trọng mà họ cảm thấy sau khi xét mình kỹ lưỡng và chưa được trực tiếp tha bởi quyền chìa khoá của Giáo Hội, cũng chưa được biết đến trong lần xưng tội cá nhân”, (16) bất cứ thực hành nào mà hạn chế việc xưng tội vào một việc cáo tội chung cho cả loại hay là vào việc cáo một hay hai tội cho là quan trọng hơn, thực hành đó phải bị loại trừ. Quả thật, vì mọi người tín hữu đều được kêu gọi nên thánh, nên khuyên họ cũng xưng các tội nhẹ nữa. (17)
4. Trong ánh sáng và trong cảnh huống của những qui luật nói trên, việc giải tội cho một số hối nhân một lượt mà không có xưng tội trước, như được dự liệu theo Điều 961 của Bộ Giáo Luật, phải được hiểu và ban đúng cách. Việc giải tội như thế thật sự phải là “bất thường theo tính cách” (18) và “không thể ban một cách thông thường trừ trường hợp:
1. nguy hiểm sắp chết và không còn kịp cho linh mục hay các linh mục nghe tội của từng hối nhân ;
2. Có một nhu cầu nghiêm trọng, nghĩa là, vì quá đông hối nhân mà số cha giải tội không đủ để nghe xưng tội riêng từng cá nhân trong một thời gian thích hợp, đến nỗi các hối nhân sẽ bị thiếu ân sủng bí tích hay không được Rước Mình Thánh một thời gian dài mà không phải lỗi của họ; không được coi là thật sự cần thiết nếu các cha giải tội không đủ chỉ vì số đông hối nhân, như có thể xảy ra trong dịp lễ lớn hay hành hương” (19)
Khi nói tới trường hợp có nhu cầu nghiêm trọng, xin giải thích rõ sau đây:
a) Nhu cầu đó qui chiếu về những hoàn cảnh bất thường khách quan, như có thể xảy ra trong những vùng đất truyền giáo hay những cộng đồng tín hữu sống biệt lập, nơi đó linh mục chỉ có thể viếng thăm một hay vài lần trong một năm, hay là chiến tranh hoặc những điều kiện thời tiết hoặc những yếu tố tương tự cho phép.
b) Hai điều kiện ghi trong giáo luật để ấn định nhu cầu nghiêm trọng, không thể tách riêng nhau. Do đó, không bao giờ đúng là vấn đề các cá nhân có thể được nghe xưng tội hay không “cách riêng tư” và “trong thời gian thích hợp” vì thiếu linh mục; điều này phải kết hợp với việc các hối nhân có thể bị bắt buộc mất ân sủng bí tích “một thời gian dài” mà không phải lỗi của họ. Do đó, phải lưu ý tới tất cả mọi hoàn cảnh của hối nhân và của Giáo phận, trong những gì liên quan tới việc tổ chức mục vụ của Giáo phận và khả năng người tín hữu tới được với Bí tích Sám Hối.
c) Điều kiện thứ nhất, sự không thể nghe xưng tội “riêng tư” “trong một thời gian thích hợp”, chỉ qui chiếu về thời gian cần cách hợp lý cho những yếu tố của sự cử hành Bí tích thành sự và xứng đáng. Ở đây không phải là một vấn đề của sự đàm thoại mục vụ trải dài, sự đàm thoại có thể dành cho những hoàn cảnh thuận tiện hơn. Thời gian hợp lý và thích hợp để nghe xưng tội sẽ tùy thuộc vào những khả năng thật sự của cha giải tội hay các cha giải tội, và của chính các hối nhân.
d) Điều kiện thứ hai kêu gọi một sự phán đoán khôn ngoan ngõ hầu ước định thời gian bao lâu các hối nhân có thể mất ân sủng bí tích để nói tới một sự không thể thật như mô tả trong Điều 960, giả định không có nguy hiểm chết ngay. Một sự phán đoán như vậy không phải là khôn ngoan nếu nó bóp méo ý nghĩa của sự không thể vật lý hay luân lý, như trường hợp, ví dụ, nếu nghĩ rằng thời gian ít hơn một tháng hiểu là “một thời gian lâu dài” trong một tình trạng mất mát như vậy.
e) Không chấp nhận tạo ra hay cho phép tạo ra những hoàn cảnh có vẻ cần thiết nghiêm trọng, phát sinh từ việc không ban Bí tích theo cách bình thường do không tuân theo các qui định nói trên, (20) và còn ít hơn vi hối nhân thích được giải tội chung, dường như đó là một sự chọn lựa bình thường tương đương với hai hình thức bình thường nói trong sách các Lễ Nghi.
f) Con số đông đảo các hối nhân tập họp trong dịp lễ lớn hay hành hương, hay là do những lý do du lịch hay là do tính lưu động của dân chúng ngày càng tăng hôm nay, tự nó không làm thành sự cần thiết đủ.
5. Việc xét đoán xem có những điều kiện đòi hỏi theo Điều 961 $ 1, 2 không phải là chuyện của cha giải tội, nhưng là của “Giám mục giáo phận, ngài có thể ấn định những trường hợp cần thiết như thế trong ánh sáng những tiêu chuẩn được chấp nhận với các thành viên khác trong Hội Đồng Giám Mục”. (21) Những tiêu chuẩn mục vụ này phải biểu hiện gìn giữ lòng trung thành trọn vẹn, tùy theo những hoàn cảnh của những vùng tương ứng của các ngài, đối với những tiêu chuẩn cơ bản gặp trong kỷ luật chung của Giáo Hội, chính những tiêu chuẩn đó dựa trên những đòi hỏi phát xuất từ chính Bí tich Sám Hối như là một cơ chế thần linh.
6. Vì tầm quan trọng cơ bản của sự hài hoà trọn vẹn giữa các Hội Đồng Giám Mục thế giới, trong một vấn đề rất thiết yếu của đời sống Giáo Hội, các Hội Đồng khác nhau, tuân giữ Điều 455 $ 2 của Bộ Giáo Luật, sẽ gởi sớm hết sức có thể tới Bộ Bí Tích và Phụng Tự, văn bản các qui luật các ngài muốn đề ra hay cập nhật hoá theo ánh sáng của Tự Sắc này áp dụng Điều 961. Điều này giúp nuôi dưỡng sự hiệp thông càng lớn hơn giữa các Giám Mục Giáo Hội khi các ngài khuyến khích tín hữu khắp nơi kín múc dồi dào từ nguồn mạch lòng thương xót Chúa luôn luôn chảy ra trong Bí tích Hoà Giải.
Trong viễn ảnh hiệp thông này, cũng là điều thích hợp nếu các Giám Mục Giáo phận thông tin cho các Hội Đồng Giám Mục tương ứng về việc có hay không có những trường hợp của nhu cầu nghiêm trọng xảy ra trong những quyền hạn của mình. Sau đó mỗi một Hội Đồng sẽ có trách nhiệm thông báo cho Bộ nói trên về hoàn cảnh thật trong các vùng đất của mình và về bất cứ thay đổi nào xảy ra tiếp sau.
7. Còn về tâm trạng cá nhân của các hối nhân, cần nên nhắc lại rằng:
a) “ Để cho người tín hữu lãnh thành sự việc giải tội bí tích ban cho nhiều người một lượt, không những họ phải được chuẩn bị cách thích hợp, nhưng đồng thời họ phải có ý xưng cá nhân những tội nặng mà lúc đó họ không thể xưng”. (22)
b) Theo như có thể, kể cả những trường hợp nguy tử, phải cho người tín hữu một lời khuyên trước” để mỗi người chú ý làm việc ăn năn tội”. (23)
c) Điều rõ ràng là các hối nhân sống trong một tình trạng tội nặng và không có ý sửa đổi hoàn cảnh của mình, thì không thể lãnh phép giải tội cách thành sự được.
8. Việc buộc “xưng những tội nặng ít nhất một lần trong năm” (24) vẫn còn giá trị, và do đó “một người đã được tha các tội nặng qua việc giải tội chung, phải đi xưng tội cá nhân càng sớm khi có dịp làm như vậy, trước khi lãnh một việc giải tội chung khác, trừ ra có một lý do chính đáng”. (25)
9. Về nơi chốn và toà giải tội để cử hành Bí tích, phải ghi nhớ rằng:
a) “Nơi chốn thích hợp để nghe xưng tội bí tích là một nhà thờ hay một nhà nguyện”, (26) dầu điều vẫn rõ ràng là những lý do mục vụ có thể biện minh cho việc cử hành Bí Tích trong những nơi khác. (27)
b) Các toà giải tội được qui định bởi những quy luật do các Hội Đồng Giám Mục tương ứng đề ra, các ngài phải bảo đảm cho các toà giải tội được đặt “trong một chỗ trống” và có “một tấm lưới cố định“, ngõ hầu cho phép người tín hữu và chính các cha giải tội nào muốn sử dụng, có thể làm như vậy cách tự do. (28)
Tôi ra lệnh rằng tất cả những gì đề ra trong Tông Thư này gọi là Motu Proprio sẽ có hiệu lực đầy đủ và vĩnh viễn và phải được tuân giữ kể từ ngày hôm nay trở về sau, bất chấp những qui định nào nghịch lại. Tất cả những gì tôi đã ra lệnh giữ trong Thư này, tự bản tính nó, có giá trị cho các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương đáng kính phù hợp với những Điều trong bộ Giáo Luật của họ.
Ban hành tại Roma, trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô, ngày 7/4, Chúa nhật II Phục Sinh, ngày lễ kính nhớ Lòng Thương Xót của Chúa, năm 2002 Niên Lịch Chúa (giáng sinh), năm thứ 24 triều Giáo Hoàng của tôi.
+ Gioan Phaolô II
1) Sách lễ Rôma, Kinh Tiền Tụng Mùa Vọng
2) Sách Giáo Lý Công Giáo, 536
3) Xem. Văn Kiện Công Đồng Chung Trent, Chương XIV, De Sacramento Paenitentiae, Giáo Luật. 3: DS 1703.
4) No. 37: AAS 93 (2001) 292
5) Xem Giáo Luật khoản 213 và 843 triệt 1.
6) Xem. Văn Kiện Công Đồng Chung Trent, Chương XIV, De Sacramento Paenitentiae, Giáo Luật. Chương 4: DS 1676.
7) Ibid., Giáo Luật. 7: DS 1707.
8) Ibid., Chương. 5: DS 1679; Công Đồng Chung Florence, Sắc Lệnh cho Armenians (22 tháng 11 1439): DS 1323.
9) Xem. Giáo Luật 392; Công Đồng Chung Vatican II, Hiến Chế Giáo Hội Lumen Gentium, Nos. 23, 27; Sắc Lệnh về Mục Vụ Giám Mục Christus Dominus, No. 16.
10) Xem. Giáo Luật 961, triệt 1, 2
11) Xem. Nos. 980-987; 1114-1134; 1420-1498.
12) Giáo Luật 960.
13) Giáo Luật 986, triệt 1
14) Xem. Công Đồng Chung Vatican II, Sắc Lệnh về Mục Vụ và Đời Sống Linh Mục, Presbyterorum Ordinis, 13; Ordo Paenitentiae, editio typica, 1974,Praenotanda, No. 10, b.
15) Xem. Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích,Responsa ad dubia proposita: Notitiae, 37 (2001) 259-260
16) Giáo Luật 988, triệt 1
17) Xem. Giáo Luật 988, triệt 2: John Paul II, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục về Hòa Giải và Thống Hối (2 Tháng 12 1984), 32: AAS 77 (1985) 267; Sách Giáo Lý Công Giáo, 1458.
18) John Paul II, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục về Hòa Giải và Thống Hối (2 Tháng 12 1984), 32: AAS 77 (1985) 267.
19) Giáo Luật 961, triệt 1
20) Xem. Nos. 1 and 2.
21) Giáo Luật 961, triệt 2
22) Giáo Luật 962, triệt 1
23) Giáo Luật 962, triệt 2
24) Giáo Luật 989
25) Giáo Luật 963.
26) Giáo Luật 964, triệt 1
27) Xem. Giáo Luật 964 triệt 3.
28) Hội Đồng Giáo Hoàng về Diễn Giải Văn Bản Pháp Quy, Responsa ad propositum dubium: de loco excipiendi sacramentales confessiones (7 Tháng Bẩy 1998): AAS 90 (1998) 711.
Đức Ông Phêrô Nguyễn Quang Sách




PHỤ LỤC
NHẬN ĐỊNH VỀ TÔNG THƯ - TỰ SẮC
CỦA ĐỨC THÁNH CHA VỀ BÍ TÍCH GIẢI TỘI
(05/05/2002). Sáng thứ năm, mùng 2 tháng 5/2002, hai Đức HY Joseph Ratzinger, Tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin và ĐHY Jorge Arturo Medina Estevez, Tổng trưởng Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí tích, cùng với Đức TGM Julian Herranz, Chủ tịch Hội đồng Giáo Hoàng phụ trách việc giải thích các bản văn luật pháp, trình bày với giới báo chí văn kiện mới của ĐTC Gioan Phaolô II, có tựa đề là: "Misericodia Dei" (Lòng thương xót Thiên Chúa), nói về Bí tích Hòa giải. Văn Kiện mới được gọi là "Tông thư ", nhưng cũng mang một tính cách của một "Tự Sắc” (Motu Proprio), một văn kiện có tính cách luật pháp, được Đức Thánh Cha dùng để công bố những luật lệ của Giáo hội, trong những hoàn cảnh riêng biệt.
Vì thế chúng ta thấy: trong cuộc họp báo, ngoài Đức Hồng Y Tổng trưởng Bộ Phụng tự và Kỷ Luật Bí tích, còn có sự hiện diện của Đức Hồng Y Tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin và Đức TGM Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh giải thích bản văn luật pháp của Giáo hội. Sự hiện diện ý nghĩa này nói lên tính cách quan trọng của Văn Kiện mới, được chính Đức Thánh Cha ký tên và công bố cho toàn Giáo hội.
Mục đích của Văn kiện mới nhằm đề cao sự quan trọng và sự cần thiết của Bí tích Hòa Giải, ngay từ lúc Chúa Giêsu bắt đầu cuộc đời công khai rao giảng Tin Mừng, đồng thời nêu lên những chỉ dẫn, để phục hưng Bí tích Hòa Giải này trong đời sống Giáo hội.
Trong Năm Toàn xá, người ta đã ghi nhận được những dấu hiệu tốt đẹp của việc phục hưng Bí tích Hòa Giải. Số người lãnh Bí tích trên cả thế giới, cách riêng tại Roma, nhất là Ngày Giới Trẻ Thế Giới, tháng 8 năm 2000, rất khích lệ. Dù vậy Bí tích Hòa giải vẫn còn trong "cơn khủng hoảng", cách riêng tại thế giới Tây phương. Cơn khủng hoảng này một phần do các linh mục, phần khác do phía giáo dân.
Nói là do các linh mục, vì các ngài không quan tâm đến việc ngồi Tòa Giải tội và không sẵn sàng đón nhận những người xin xưng tội, coi việc ngồi tòa giải tội là một gánh nặng, hoặc lạm dụng Bí tích Hòa giải bằng cách "giải tội chung hay tập thể", không lo giáo huấn về Bí tích quan trọng này trong đời sống người giáo dân và biếng nhát lãnh nhận bí tích nầy trong chính đời sống linh mục. Như vậy, có thể nói chính linh mục làm cho người giáo dân rơi vào thái độ coi thường Bí tích Hòa giải và dần dần đi đến việc bỏ hẳn việc xưng tội, mà chỉ đợi dịp tiện "để lãnh nhận việc giải tội tập thể”.
Từ phía giáo dân - Do việc giảm bớt đức tin - do việc thiếu sót về giáo lý - do mất quan niệm về tội lỗi - do tự ái, hổ thẹn không muốn tiết lộ tội lỗi mình với người khác - do xưng tội vì thói quen, thiếu chuẩn bị và kiểm thảo bản thân... hoặc không tín nhiệm nơi linh mục, nhất là cha sở của mình, vì lý do này lý do khác... vân vân.
Giờ đây chúng tôi xin lược tóm những điểm chính của Văn kiện "Misericordia Dei". Có tám (08) điểm sau đây:
1 - Hình thức duy nhất của việc xưng tội "thành" (valide) là việc thú tội cá nhân và xưng thú mọi tội trọng đã phạm, sau khi lãnh Bí tích Rửa tội, mà chưa được tha thứ (số 1, a).
2 - Cấm các linh mục ban phép giải tội tập thể hoặc chung. Việc ban phép giải tội tập thể hay chung, chỉ được phép trong trường hợp nguy tử hay có sự cần thiết thực sự trầm trọng. Trong hai trường hợp này, lúc nào có thể, vẫn bắt buộc phải xưng tội cá nhân (các tội đã được tha trong lần giải tội chung hay tập thể).
3 - Việc nhận định có hay không có những điều kiện của những trường hợp thực sự khẩn cấp, là việc thuộc thẩm quyền của mỗi giám mục giáo phận và Hội đồng Giám mục quốc gia. Quyền này không thuộc về linh mục giải tội (xem giáo luật khoản 961, triệt 1 và số 6 của Tông thư -Tự Sắc).
4 - Nơi chốn duy nhất và tòa giải tội để cử hành Bí tích Hòa giải là : nhà thờ hay nhà nguyện, hay một nơi nào khác, vì lý do chính đáng mục vụ đòi hỏi (x. số 9 , a).
5 - Tòa giải tội phải có vách che, để phân biệt vị giải tội khỏi người xưng tội và phải được đặt nơi mọi người thấy rõ (visibile). Luật lệ về tòa giải tội do các HĐGM ấn định (x. số 9, b).
6 - Cấm các linh mục không được ban Bí tích hòa giải cách dễ dàng cho những người thường sống trong tình trạng tội lỗi mà không muốn thay đổi đời sống. Đối với các tín hữu, luật bắt buộc xưng tội một năm ít là một lần vẫn còn hiệu lực, không có gì thay đổi.
7 - Tông thư -Tự sắc này có giá trị cho cả các Giáo hội Đông phương (x. số 9, phần kết).
8 - Tông thư -Tự sắc này có giá trị và phải được tuân giữ kể từ ngày Đức Thánh Cha ký nhận, tức mùng 7 tháng 4 năm 2002, Chúa nhật cuối tuần bát nhật Lễ Phục sinh, và cũng là Chúa nhật của Lòng Thương xót Chúa.
Kết thúc bài thời sự nầy, chúng tôi xin trích lại đây nhận xét của Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, tổng trưởng bộ Giáo Lý Đức Tin, vào khởi đầu bài giới thiệu Tông Thư-Tự Sắc, như sau: "Điều rõ ràng trong giờ phút lịch sử chúng ta hôm nay là nhân loại cần sự thanh tẩy và sự tha thứ. Chính vì vậy, mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong tông thư "Khởi đầu ngàn năm mới (số 37) đã ước mong sao giữa những ưu tiên của sứ mạng của Giáo Hội trong ngàn năm mới, có một sự can đảm mới trong hoạt động mục vụ, để trình bày một cách đầy thuyết phục và hữu hiệu việc thực hành bí tích Hòa Giải”.

Monday, August 1, 2011

TÔNG THƯ MANE NOBISCUM DOMINE

TÔNG THƯ MANE NOBISCUM DOMINE - LẠY CHÚA, XIN Ở LẠI VỚI CHÚNG CON  
CỦA ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II GỬI CÁC GIÁM MỤC, LINH MỤC VÀ GIÁO DÂN TRONG NĂM THÁNH THỂ THÁNG MƯỜI 2004 -THÁNG MƯỜI 2005
 
DẪN NHẬP
1. “ Lạy Chúa, xin ở lại với chúng con vì trời đã xế chiều ” (Lc 24, 29 ). Đây là lời mời xin tha thiết mà hai môn đệ trên đường Emmaus, vào buổi chiều ngày Phục Sinh nói với Người Bộ Hành đã đồng hành với mình trên đường đi. Trĩu nặng vì buồn nản, họ không bao giờ nghĩ rằng người khách lạ ấy lại chính là Thầy mình mới sống lại. Tuy nhiên, họ cảm thấy tâm hồn mình bừng cháy ( c. 32 ) khi Người nói chuyện với họ và “ giải thích ” Kinh Thánh cho họ. Anh sáng của Lời Chúa cất khỏi lòng họ sức nặng và “ mở rộng đôi mắt họ ” ( c. 31 ). Giữa bóng đêm của ngày đang qua và bóng tối đang phủ kín tâm trí họ, Người Bộ Hành đã đem lại một tia sáng khơi lên niềm hi vọng, hướng tâm hồn họ khao khát ánh sáng tràn đầy. Họ nài xin, “ hãy ở lại với chúng con”. Và Người đã đồng ý. Một lát sau, khuôn mặt Chúa biến đi, nhưng Người Thầy ấy vẫn luôn “ ở lại” với họ, ẩn diện trong “ hành vi bẻ bánh”, giúp họ mở to đôi mắt để nhận biết Người.
2. Hình ảnh hai môn đệ trên đường Emmaus có thể dùng như bản hướng dẫn thích hợp trong Năm mà Giáo Hội dành đặc biệt để sống Mầu Nhiệm Thánh Thể. Giữa biết bao vấn đề và khó khăn, ngay cả những thất vọng nặng nề, Người Bộ Hành Thần Linh vẫn tiếp tục đồng hành bên cạnh chúng ta, mở ra cho chúng ta Kinh Thánh và hướng dẫn chúng ta hiểu sâu hơn những mầu nhiệm của Thiên Chúa. Khi sự gặp gỡ Người trở nên trọn vẹn, với ánh sáng của Lời tiếp nối ánh sáng toả rạng từ “ Bánh Sự Sống”, Chúa Kitô sẽ thực hiện đến cùng lời Người đã hứa “ Thầy ở với các con luôn mãi, cho đến tận thế ” ( Mt 28, 20 ).
3. “ Bẻ bánh ”- như Bí tích Thánh Thể được gọi từ lúc khai nguyên – luôn luôn là trung tâm của đời sống Giáo Hội. Qua đó, Chúa Kitô làm cho mầu nhiệm sự chết và sống lại của Người hiện thực trong thời gian. Trong đó, Người được đón nhận trong một nhân vị, như “ Bánh sự sống từ trời ban xuống ” ( Gio. 6, 51 ), và cùng với Người, chúng ta nhận được bảo chứng của sự sống đời đời cũng như hưởng nếm trước bàn tiệc vĩnh cửu của Giêrusalem thiên quốc. Tiếp nối giáo huấn của các Giáo phụ, của các Công Đồng và của các vị tiền nhiệm, tôi thường xuyên khuyến giục Giáo Hội suy tư về Bí tích Thánh Thể, mà gần đây nhất là ban hành Thông điệp Bí tích Thánh Thể. Ở đây tôi không có ý định lặp lại giáo huấn này, mà chỉ mời gọi đào sâu để hiểu rõ hơn. Tuy nhiên, tôi nghĩ thật hữu ích cho mục đích ấy là dành trọn năm nay cho Bí tích huyền diệu này.
4. Như chúng ta đã biết, Năm Thánh Thể sẽ được cử hành từ tháng 10 năm 2004 tới tháng 10 năm 2005. Ý tưởng về việc cử hành này đến từ hai biến cố được dùng để đánh dấu ngày khai mạc cũng như ngày bế mạc: Đại Hội Thánh Thể quốc tế, diễn ra tại Guadalajara, nước Mêxicô từ 10-17 tháng 10 năm 2004, và Hội Nghị Thường Kỳ của Thượng Hội Đồng Giám Mục, sẽ được tổ chức tại Vatican từ 2 đến 29 tháng 10 năm 2005 với chủ đề: “ Thánh Thể: Nguồn mạch và Đỉnh cao của Sự Sống và Sứ Mệnh của Giáo Hội”. Tôi cũng được thúc đẩy bởi một ý tưởng khác nữa: Ngày Đại Hội Giới Trẻ diễn ra tại Cologne từ 16-20 tháng 8 năm 2005. Tôi ước mong giới trẻ quy tụ quanh Bí Tích Thánh Thể như là nguồn sự sống nuôi dưỡng đức tin và lòng nhiệt thành của họ. Một sáng kiến về Bí tích Thánh Thể như vậy quả thực đã hình thành trong tâm trí tôi vào một lúc nào đó: nó là sự mở rộng tự nhiên xuất phát từ định hướng mục vụ mà tôi muốn chuyển giao cho Giáo Hội, đặc biệt khởi đi từ những năm chuẩn bị cho Đại Năm Thánh và những năm tiếp theo.
5. Trong bức Tông Thư này, tôi muốn tái khẳng định tính liên tục mục vụ đó và giúp mọi người hiểu được ý nghĩa thiêng liêng ấy. Còn về mặt thực hiện cụ thể Năm Thánh Thể, tôi uỷ thác cho sự đóng góp của các Vị Mục Tử trong mỗi Giáo Hội Địa phương, mà lòng mộ mến của các ngài đối với Bí tích cao quý này sẽ đề ra những phương hướng thích hợp. Các Chư Huynh Giám Mục của tôi chắc chắn sẽ hiểu ngay rằng, sáng kiến này nối tiếp không lâu sau việc cử hành Năm Măn Côi, thật sự mang một ý nghĩa thiêng liêng trọng đại, và nó sẽ không gây ra những trở ngại nào cho những chương trình mục vụ của các Gíao Hội địa phương. Trái lại, nó còn rọi sáng cho những chương trình đó và củng cố thêm, để có thể nói rằng, chính Mầu nhiệm ấy đã nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của các tín hữu cũng như khơi dậy những sáng kiến của Giáo Hội địa phương. Tôi không đề nghị Giáo Hội địa phương phải thay đổi các chương trình mục vụ của mình, nhưng nhấn mạnh đến chiều kích Thánh Thể như là một phần của toàn thể đời sống Kitô giáo. Về phần tôi, qua bức Thư này tôi muốn đưa ra một số hướng dẫn căn bản, và tôi tin tưởng rằng mọi thành phần Dân Chúa sẽ hân hoan chào đón đề nghị của tôi với lòng nhiệt thành và yêu mến.
I. TRONG SỰ KẾ TỤC CÔNG ĐỒNG VÀ NĂM THÁNH
Hướng nhìn về Chúa Kitô
6. Mười năm trước đây, trong Thông điệp Tertio Millennio Adveniente ( 10 tháng 11 năm 1994) tôi đã vui mừng đưa ra cho toàn thể Giáo Hội một chương trình chuẩn bị cho Năm Đại Thánh 2000. Tôi nhận ra rằng cơ hội này xuất hiện như một hồng ân lớn lao. Thật vậy, tôi hiểu rằng, một biến cố chỉ mang tính niên đại, cho dù thật ấn tượng, tự nó không thể tạo ra những thay đổi lớn lao. Bất hạnh thay, Nghìn năm mới khởi đầu với những biến cố bi thảm đã xảy ra từ trong quá khứ, lại tiếp diễn với những diện mạo mới tồi tệ nhất. Toàn cảnh hiện ra, dù có một số yếu tố tích cực, vẫn đầy những hành động bạo lực và đổ máu, làm tất cả chúng ta phải đau lòng. Tuy thế, trong khi mời gọi Giáo Hội cử hành Năm Thánh Hai Ngàn, kỉ niệm Mầu Nhiệm Nhập Thể, tôi đã xác tín – và vẫn còn xác tín hơn bao giờ !- rằng việc cử hành ấy đem lại ích lợi cho nhân loại “về lâu dài”.
Chúa Giêsu Kitô đứng ở trung tâm, không chỉ của lịch sử Giáo Hội nhưng còn của cả nhân loại. Trong Người muôn loài được quy tụ lại ( Eph 1, 10; Col 1, 15- 20 ) . Làm sao chúng ta lại không nhớ lại rằng trong bầu khí nồng nhiệt của Công Đồng Vatican II, Đức Thánh Cha Phaolô VI đã công bố rằng Chúa Kitô là “ đích điểm của lịch sử nhân loại, là tâm điểm của mọi khao khát của lịch sử và văn minh, là trung tâm của nhân loại, là niềm vui cho mọi con tim, và là sự thành toàn cho mọi ước muốn ” (1 ) . Giáo huấn của Công Đồng đã mở ra cho chúng ta những khám phá mới về bản tính Giáo Hội, giúp cho các tín hữu có cái nhìn sáng tỏ hơn, không chỉ đối với các mầu nhiệm đức tin mà còn rọi thấu các thực tại trần thế, khi được ánh sáng của Chúa Kitô soi dẫn. Trong Ngôi Lời Nhập Thể, cả mầu nhiệm Thiên Chúa và mầu nhiệm con người đều được mặc khải. (2) Trong Người, nhân loại tìm được ơn cứu độ và sự thành toàn.
7. Trong Thông điệp Redemptor Hominis, vào đầu nhiệm kì Giáo Hoàng của tôi, tôi đã khai triển rộng rãi tư tưởng này và tôi thường xuyên trở lại đó vào những dịp khác nhau. Năm Thánh là thời điểm thích hợp mời gọi các tín hữu một lần nữa nhìn lại sự thật nền tảng này. Việc chuẩn bị cho biến cố vĩ đại ấy hoàn toàn quy về Chúa Ba Ngôi va Chúa Kitô. Trong chương trình này, rõ ràng phải có vị trí cho Bí tích Thánh Thể. Vào lúc khai mạc Năm Thánh Thể này, tôi đã lặp lại những lời mà tôi đã viết trong Tông thư Tertio Millennio Adveniente : “ Năm 2000 sẽ chính thức là năm Thánh Thể; Trong Bí tích Thánh Thể, Đấng Cứu Độ, mặc xác phàm trong lòng Đức Maria cách đây hai mươi thế kỉ, tiếp tục hiến mình cho nhân loại như là nguồn mạch sự sống thần linh”. (3) Đại Hội Thánh Thể được tổ chức năm ấy tại Rôma cũng đã giúp tập trung chú ý vào chủ đề ấy của Đại Năm Thánh. Cũng cần nhớ lại rằng trong Tông Thư Dies Domini, được viết để chuẩn bị cho Năm Thánh, tôi mời gọi mọi tín hữu suy niệm về Ngày Chúa Nhật như ngày Chúa Sống Lại và là ngày đặc biệt của Giáo Hội. Tôi khuyến giục mọi người tái khám phá việc cử hành Bí tích Thánh Thể như là tâm điểm của Ngày Chúa Nhật. (4)
Chiêm ngắm Dung nhan Chúa Kitô với Mẹ Maria
8. Những hoa trái của Đại Năm Thánh được tổng hợp trong Tông Thư Novo Millennio Ineunte. Trong tài liệu dùng để sắp đặt chương trình, tôi đã gợi ý tổng quát sinh hoạt mục vụ dựa trên sự chiêm ngắm dung nhan Chúa Kitô, trong khuôn khổ của một khoa sư phạm Giáo Hội, nhằm đạt đến “ tầm cao” của sự thánh thiện, được tìm lại qua nghệ thuật cầu nguyện. (5) Làm thế nào một chương trình như vậy có thể hoàn chỉnh nếu không có sự hỗ trợ của phụng vụ và đặc biệt của việc vun trồng đời sống Thánh Thể? Lúc đó tôi viết rằng: “ Trong thế kỉ hai mươi, đặc biệt từ sau Công Đồng, các cộng đoàn Kitô hữu đã lớn mạnh qua cách thức cử hành các Bí tích, đặc biệt Bí tích Thánh Thể. Cần tiếp tục duy trì chiều hướng này và đặc biệt nhấn mạnh đến Thánh Thể Ngày Chúa Nhật cũng như chính Ngày Chúa Nhật, được đón nhận như một ngày đặc biệt của đức tin, ngày Chúa sống lại và Chúa Thánh Thần ngự xuống, Ngày Phục Sinh hằng tuần đích thực”. (6) Trong khung cảnh huấn luyện sự cầu nguyện, tôi cũng mời gọi việc cử hành Các Giờ Kinh Phụng Vụ, nhờ đó Giáo Hội thánh hoá những giờ khắc khác nhau của một ngày sống và những chặng thời gian của năm phụng vụ.
9. Tiếp theo, qua việc công bố Năm Mân Côi và ban hành Tông Thư Rosarium Virginis Mariae tôi đã trở lại chủ đề chiêm ngắm dung nhan Chúa Kitô, khởi đi từ quan điểm Thánh Mẫu học để một lần nữa cổ vũ việc lần chuỗi Mân Côi. Lời kinh truyền thống này, rất được Huấn quyền khuyến khích và rất đáng mến đối với toàn thể Dân Chúa, mang đậm đặc điểm của Sách thánh và Tin Mừng, tập trung vào danh thánh và dung nhan của Chúa Giêsu, được chiêm ngắm qua các mầu nhiệm và sự lặp đi lặp lại câu “ Kính mừng Maria”. Tiến theo nhịp của sự lặp lại như thế, nó tạo nên một khoa sư phạm về tình yêu , nhằm khơi lên trong tâm hồn chúng ta chính tình yêu mà Mẹ Maria đã dành cho Con mình. Vì lí do đó, khi mở rộng một truyền thống đã có từ lâu đời bằng việc thêm vào các mầu nhiệm sự sáng, tôi muốn dùng hình thức chiêm ngắm ưu tiên này để hoàn thiện hơn nữa lời kinh “tóm tắt cả Tin Mừng”. (7) Vì vậy, làm sao lại không đăt Bí tích Thánh Thể vào đỉnh cao trong các mầu nhiệm sự sáng ?
Từ Năm Mân Côi đến Năm Thánh Thể
10. Đúng vào giữa Năm Mân Côi , tôi đã công bố Thông điệp Ecclesia de Eucharistia để qua đó trình bày mầu nhiệm Thánh Thể trong tương quan duy nhất và sống động với Giáo Hội. Tôi khuyến giục các tín hữu cử hành hi tế Thánh Thể với lòng sốt sắng cao nhất, dâng cho Chúa Giêsu hiện diện trong Thánh Thể, và cả khi cử hành Thánh Thể ngoài Thánh Lễ, sự tôn thờ xứng đáng với Mầu Nhiệm vĩ đại. Nhất là, tôi lại đề nghị về sự cần thiết phải có một linh đạo Thánh Thể, hướng về Mẹ Maria như là“ Người Phụ Nữ gương mẫu của Bí tích Thánh Thể” .
Năm Thánh Thể diễn ra trong một khung cảnh mà mỗi năm qua đi lại được phong phú hơn khi vẫn luôn tập trung vào chủ đề Chúa Kitô và việc chiêm ngắm Dung Nhan Người. Theo một nghĩa nào đó thì Năm nay được coi như một năm tổng hợp, năm đỉnh cao của một hành trình đã vượt qua. Chúng ta sẽ còn nói nhiều điều để giúp sống tốt năm thánh này. Nhưng tôi chỉ gợi ra một vài suy tư giúp tất cả chúng ta sống năm thánh này một cách tập trung, sâu xa và phong phú hơn.
II. THÁNH THỂ, MẦU NHIỆM ÁNH SÁNG
“ Người giải thích cho họ những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh” ( Lc 24, 27 )
11. Trình thuật Chúa Sống Lại hiện ra với hai môn đệ trên đường Emmaus giúp chúng ta đưa ra khía cạnh trước tiên của mầu nhiệm Thánh Thể, và nó phải luôn đi theo lòng sùng mộ của Dân Chúa: Thánh Thể là một mầu nhiệm ánh sáng! Điều đó có nghĩa gì và nó hàm chứa những gì đối với lòng đạo đức và đời sống Kitô giáo?
Chúa Giêsu tuyên bố Người là “ ánh sáng thế gian ” ( Gio. 8, 12 ), và điểm quy chiếu ấy hiện rõ nhiều lần trong cuộc đời của Người, như lúc Hiển Dung và Phục Sinh, khi ấy vinh quang thần linh toả sáng. Tuy nhiên, nơi Thánh Thể, vinh quang của Chúa Kitô vẫn chỉ ẩn dấu. Bí tích Thánh Thể đích thực là “ mầu nhiệm đức tin”. Chính qua mầu nhiệm hoàn toàn ẩn mình này, Chúa Kitô trở nên mầu nhiệm sự sáng, nhờ đó các tín hữu được dẫn đến chiều sâu của đờisống thần linh. Với một trực giác bén nhạy, trong bức tranh nổi tiếng của mình, Ru-lép đã chính xác đặt Bí tích Thánh Thể là trung tâm của đời sống Ba Ngôi .
12. Thánh Thể là ánh sáng trước hết bởi vì vào mỗi Thánh Lễ, Phụng Vụ Lời Chúa đi trước Phụng Vụ Thánh Thể trong sự duy nhất của hai “bàn tiệc”, bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể. Tính liên tục này hiện rõ trong diễn từ Thánh Thể của Tin Mừng thánh Gioan, trong đó Chúa Giêsu bắt đầu giáo huấn của Người bằng cách nói về mầu nhiệm Con Người, minh hoạ cho mầu nhiệm Thánh Thể: “ Thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống” (Gio 6, 55). Như chúng ta đã biết, điều này làm cho nhiều người nghe lấy làm chướng kỳ, đến nỗi Phêrô đã thay mặt cho các Tông đồ cũng như cho toàn thể Giáo Hội tuyên xưng một niềm tin vượt thời gian: “ Thưa Thầy, bỏ Thầy chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” ( Gio. 6, 68). Trong trình thuật hai môn đệ trên đường Emmaus, chính Chúa Kitô chủ động trình bày cho họ, “ bắt đầu từ Môsê và các tiên tri”, mà “ tất cả Sách Thánh” đều hướng về mầu nhiệm Con Người ( Lc 24, 27). Lời của Người làm cho sâu thẳm tâm hồn họ “ bừng cháy”, đưa họ ra khỏi bóng tối của phiền muộn và thất vọng, đánh thức nơi họ lòng khao khát luôn được ở gần Người: “ Lạy Chúa, xin ở lại với chúng con ” (c. 29 ).
13. Các Nghị phụ của Công Đồng Vatican II, trong Hiến chế Phụng vụ , mong muốn làm cho “ bàn tiệc Lời Chúa ” trở thành kho tàng Sách Thánh phong phú hơn cho các tín hữu. (9) Do đó các ngài đã cho phép các bài đọc Kinh Thánh trong Phụng vụ được công bố bằng ngôn ngữ hiểu được đối với hết mọi người. Chính Chúa Kitô nói khi Sách Thánh được đọc trong Giáo Hội. (10 ) Các Nghị phụ Công Đồng cũng nhắc nhở các linh mục sử dụng các bài giảng như một phần của Phụng vụ để diễn giải Lời Chúa và rút ra những bài học cho đời sống Kitô giáo. (11 ) Bốn mươi năm sau Công Đồng, Năm Thánh Thể là một dịp quan trọng để các cộng đoàn Kitô giáo lượng giá tiến bộ của mình trong lĩnh vực này. Việc đọc các bản văn Kinh Thánh bằng tiếng địa phương thật sự không đủ, nếu nó không được công bố với sự cẩn trọng cần thiết, sự chuẩn bị chu đáo, sự chú tâm đúng mức, và sự thinh lặng nội tâm, để Lời Chúa có thể thấm sâu vào tâm trí mọi người.
“ Họ nhận ra Người lúc bẻ bánh” ( Lc 24, 35 )
14. Thật là ý nghĩa khi hai môn đệ trên đường Emmaus, được Lời Chúa chuẩn bị kỹ lưỡng, đã nhận ra Người tại bàn ăn chỉ với một hành vi “ bẻ bánh” đơn giản . Khi trí khôn được chiếu sáng, khi con tim được đốt nóng, những dấu chỉ bắt đầu “nói lên”. Thánh Thể mở ra một cảnh trí linh động đầy những dấu chỉ chứa những tín hiệu khai sáng và phong phú. Qua những dấu chỉ này, mầu nhiệm mở rộng một cách nào đó trước mắt người tin.
Như tôi đã nhấn mạnh trong Thông Điệp Ecclesia de Eucharistia , điều quan trọng là không được bỏ qua bất cứ một khía cạnh nào của Bí tích. Chúng ta thường xuyên bị cám dỗ thu giảm Thánh Thể vào chính những chiều kích của chúng ta, trong khi thật sự chính chúng ta phải mở ra trước những chiều kích của Mầu Nhiệm. “ Thánh Thể là là một quà tặng vô cùng cao trọng, không thể dung chứa bất cứ những hàm hồ và sự hạ giảm nào”. (12 )
15. Chắc chắn chiều kích hiển nhiên nhất của Thánh Thể là một bữa ăn. Bí tích Thánh Thể được khai sinh vào chiều ngày Thứ Năm Thánh, trong khung cảnh của một bữa ăn Vượt Qua. Ý nghĩa của một bữa ăn gắn liền với cơ cấu của Bí tích Thánh Thể: “ Hãy cầm lấy mà ăn… Rồi Người cầm lấy chén ,…trao cho họ và nói: Tất cả các con hãy cầm lấy mà uống ” ( Mt 26, 27 ). Những cử chỉ ấy diễn tả mối tương quan hiệp thông mà Thiên Chúa muốn thiết lập với chúng ta, để rồi chính chúng ta phải xây dựng tình hiệp thông ấy với nhau.
Tuy nhiên, chúng không được quên rằng bữa tiệc Thánh Thể ấy trước hết và sâu xa nhất còn mang ý nghĩa hiến tế. ( 13 ) Trong Thánh Thể, Chúa Kitô tái hiện cho chúng ta lễ dâng một lần duy nhất cho tất cả trên đồi Golgotha. Hiện diện trong Thánh Thể như Chúa Phục Sinh, Người vẫn mang những dấu tích của cuộc thương khó, mà mỗi Thánh Lễ là một “cuộc tưởng niệm”, đúng như Phụng vụ mời gọi chúng ta tung hô sau truyền phép:“ Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa phục sinh …Đồng thời khi hiện tại hoá thức tại quá khứ, Thánh Thể cũng hướng chúng ta về tương lai, khi Chúa Kitô quang lâm vào thời cánh chung. Yếu tố “ cánh chung” này làm cho Bí tích Thánh Thể trở thành một động lực dẫn đường cho hành trình đức tin được chan chứa niềm hi vọng.
“ Thầy ở với các con luôn mãi…” ( Mt 28, 20)
16. Tất cả những chiều kích này của Thánh Thể liên kết với nhau thành một thực tại, mà hơn bất cứ một thực tại nào khác, đặt ra cho niềm tin chúng ta một thử thách, đó là mầu nhiệm về sự hiện diện “thực hữu”. Theo truyền thống nguyên tuyền của Giáo Hội, chúng ta tin rằng Chúa Giêsu thật sự hiện diện dưới hình Bánh Rượu. Sự hiện diện này- như Đức Thánh Cha Phaolô VI đã giải thích một cách chính xác- được gọi là “ thực hữu ” không theo ý nghĩa loại trừ, như thể những hình thức hiện diện khác của Chúa Kitô là không thực, nhưng theo nghĩa hoán xưng, nghĩa là Chúa Kitô hiện diện một cách bản thể, toàn thể và trọn vẹn, bằng chính mình và máu Người. (14 ) Đức tin nhắc bảo chúng ta rằng, khi đến với Thánh Thể là chúng ta đến với chính Chúa Kitô. Chính sự hiện diện của Người làm cho những yếu tố khác của Thánh Thể- bữa ăn, cuộc tưởng niệm Mầu Nhiệm Vượt Qua, hướng về cánh chung – mang một ý nghĩa vượt ra ngoài dấu chỉ tượng trưng. Thánh Thể là mầu nhiệm của sự hiện diện, qua đó Chúa thực hiện trọn vẹn lời Người hứa ở cùng chúng ta cho đến tận thế.
Cử hành, Tôn thờ, Chiêm ngắm
17. Ôi Thánh Thể, mot mầu nhiệm vĩ đại! Một mầu nhiệm trước hết phải được cử hành thật xứng đáng. Thánh Lễ phải được đặt vào trung tâm của đời sống Kitô giáo và phải được cử hành một cách xứng đáng trong mỗi cộng đoàn, đúng theo những quy chế đã được thiết lập, với sự tham dự tích cực của mọi người, với các thừa tác viên thực hiện các phận vụ được chỉ định, và với sự chú tâm đầy đủ đến yếu tố “ thánh thiện ” của ca hát và âm nhạc phụng vụ. Một chương trình cụ thể trong Năm Thánh Thể dành cho mỗi cộng đoàn giáo xứ là nên học hỏi và đào sâu Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma. Cuối cùng, đường lối ưu tiên để đi vào mầu nhiệm cứu độ hiện diện qua các “ dấu chỉ ” thánh thiện vẫn là trung thành sống theo diễn tiến của Năm Phụng Vụ. Các mục tử cần phải đề ra một chương trình Giáo lý khai tâm, rất được các Giáo Phụ quan tâm, nhờ đó các tín hữu có thể hiểu rõ ý nghĩa của các ngôn từ và cử chỉ dùng trong Phụng vụ, để qua những dấu chỉ hữu hình ấy, họ thấu hiểu các mầu nhiệm ẩn chứa, và tiến sâu vào mầu nhiệm trong mọi cảnh huống của đời sống.
18. Thật đặc biệt thích hợp, cả trong cử hành Thánh Lễ cũng như trong việc tôn sùng Thánh Thể ngoài Thánh Lễ, là phải nuôi dưỡng một ý thức sống động về sự hiện diện đích thực của Chúa Kitô. Phải ý thức sâu xa về giọng đọc, cử chỉ, động tác, và các tư thế toàn thân. Liên quan đến vấn đề này, luật Phụng vụ đã nhắc nhở – và chính tôi cũng vừa tái khẳng định (15) – về tầm quan trọng của những phút thinh lặng cả trong cử hành Thánh Lễ và trong việc tôn sùng Thánh Thể. Tóm kết lại là các thừa tác viên cũng như các tín hữu phải thể hiện lòng sùng kính sâu xa đối với Thánh Thể. (16) Sự hiện diện của Chúa Giêsu trong nhà tạm phải trở thành một thứ cực hút lôi cuốn càng ngày càng đông những tâm hồn yêu mến Người, sẵn sàng kiên trì chờ đợi để được nghe tiếng Người, và như đã từng có, để cảm nhận nhịp đập từ trái tim của Người. “ Hãy nếm thử và hãy nhìn xem cho biết Chúa thiện hảo chừng nào!” ( Tv 34, 8 ).
Trong năm nay, ước gì việc tôn sùng Thánh Thể ngoài Thánh Lễ phải trở thành mối quan tâm đặc biệt của các cộng đoàn xứ đạo cũng như cộng đoàn tu trì! Hãy dành nhiều thời gian lặng quỳ trước Chúa Giêsu Thánh Thể, để nhờ đức tin và tình yêu mà cải đổi các hành vi vô tâm, chểnh mảng, và cả những xúc phạm mà Chúa Cứu Thế đang phải chịu thay chúng ta tại nhiều nơi trên thế giới. Qua việc tôn thờ, chúng ta hãy đi sâu vào sự chiêm ngắm cá nhân cũng như cộng đoàn, nhờ những kinh nguyện được gợi hứng từ Lời Chúa, và nhờ cảm nghiệm của rất nhiều nhà thần bí cũ mới. Cả Kinh Mân Côi khi được thực hiện theo thể thức Kinh Thánh và quy về Chúa Kitô, như tôi đã trình bày trong Tông thư Rosarium Virginis Mariae, cũng rất thích hợp để dẫn chúng ta đi sâu vào việc tôn thờ Thánh Thể, được thực hiện cùng Mẹ Maria như là người đồng hành và hướng dẫn của chúng ta. (17)
Cũng trong năm nay, ước gì chúng ta hãy cử hành Lễ Mình Máu Chúa Kitô một cách đặc biệt long trọng, mà theo truyền thống thường có rước kiệu Thánh Thể. Xin cho đức tin của chúng ta vào Thiên Chúa nhập thể, nên người đồng hành với chúng ta, phải được tuyên xưng mọi nơi, nhất là nơi phố xá và trong mọi nhà, như một cách thể hiện lòng tri ân và như một nguồn chúc tụng không bao giờ vơi cạn.
III. THÁNH THỂ NGUỒN MẠCH VÀ SỰ THỂ HIỆN TÌNH HIỆP THÔNG
“Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong các con ” ( Gio. 15, 4)
19. Khi các môn đệ trên đường Emmaus nài xin Chúa Giêsu ở lại “với” các ông, Người đã đáp lại họ bằng cách trao ban cho họ một ơn huệ lớn lao hơn: qua Bí tích Thánh Thể, Người muốn ở lại “trong ” họ. Đón nhận Thánh Thể nghĩa là đi vào sự hiệp thông mật thiết với Chúa Giêsu. “ Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong các con” ( Gio. 15, 4 ). Sự kết hiệp thâm sâu và hỗ tương này cho phép chúng ta, một cách nào đó, cảm nếm thiên đàng ngay tại trần gian. Đó không phải là khát vọng lớn nhất của con người hay sao? Đó không phải là ý định của Thiên Chúa khi Người thực hiện kế hoạch cứu độ trong lịch sử đó sao? Thiên Chúa đã đặt vào lòng con người sự “ khao khát ” Lời Người ( Am. 8, 11), một sự khao khát chỉ có thể được thoả mãn nhờ kết hiệp trọn vẹn với Người. Hiệp thông Thánh Thể được trao ban cho chúng ta để chúng ta có thể “ vui thoả” với Thiên Chúa ngay trên trần gian, trong khi chờ đợi sự kết hiệp toàn vẹn trên trời.
Chỉ một tấm bánh, chỉ một thân mình
20. Sự kết hiệp mật thiết này qua Bí tích Thánh Thể không thể được thấu hiểu hay cảm nghiệm cách trọn vẹn nếu không hiệp thông với Giáo Hội. Đó là điều tôi đã nhấn mạnh nhiều lần trong Thông điệp Ecclesia de Eucharistia . Giáo Hội là Thân Thể của Chúa Kitô: chúng ta tiến bước “ với Chúa Kitô” theo mức độ chúng ta hết hợp “với thân mình Người”. Chúa Kitô làm cho loài thụ tạo tăng triển sự duy nhất ấy nhờ Chúa Thánh Thần . Và Người vẫn luôn xây dựng sự duy nhất ấy qua sự hiện diện Thánh Thể của Người. Trong Thánh Thể, tất cả chúng ta trở nên một thân thể. Thánh Tông đồ Phaolô đã khảng định điều đó: “ Bởi vì chỉ có một tấm bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một Thân Thể” ( 1 Cor 10, 17). Trong mầu nhiệm Thánh Thể, Chúa Giêsu xây dựng Giáo Hội như là sự hiệp thông, theo mẫu mực tuyệt đỉnh Người đã tỏ bày trong Lời nguyện tư tế : “ Lạy Cha, như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để họ nên một trong chúng ta, và để thế gian tin rằng Cha đã sai con ” ( Gio. 17, 21 ).
21. Thánh Thể vừa là nguồn của sự hiệp nhất Giáo Hội vừa là sự biểu lộ trọn vẹn nhất về Giáo Hội. Thánh Thể là một cuộc thần hiển của tình hiệp thông. Vì lẽ đó mà Giáo Hội đã đề ra những điều kiện và quy tắc cho việc cử hành Thánh Thể. (18 ) Những định chế khác nhau cần giúp chúng ta hiểu rõ hơn những đòi hỏi mà chính Chúa Giêsu đã đưa ra cho chúng ta để thực hiện tình hiệp thông. Trước tiên là sự hiệp thông trong phẩm trật, dựa trên ý thức về những vai trò và những thừa tác vụ khác nhau, luôn được xướng lên trong kinh nguyện Thánh Thể khi nhắc đến Đức Thánh Cha và Đức Giám Mục giáo phận. Tiếp theo là sự hiệp thông huynh đệ, luôn được nuôi dưỡng bởi “ tinh thần hiệp thông ”, thúc đẩy chúng ta rộng mở nguồn tình cảm, tình yêu thương, sự thông hiểu và sự tha thứ cho nhau.
“… chung một lòng và một tâm hồn” ( Cv. 4, 32 )
22. Trong mỗi Thánh Lễ, chúng ta được mời gọi kiểm điểm lại lí tưởng sống hiệp thông mà sách Công Vụ Tông Đồ đã thuật lại như là mẫu mực cho Giáo Hội của mọi thời đại. Chính Giáo Hôi được các Tông Đồ quy tụ, được Lời Chúa triệu tập có khả năng chia sẻ không chỉ của cải thiêng liêng mà còn của cải vật chất nữa ( Cv. 2, 42 – 47;4, 32 – 35 ). Trong Năm Thánh Thể này, Chúa mời gọi chúng ta tiến đến lí tưởng ấy gần nhất có thể. Ước gì mỗi người dấn thân hơn cho lí tưởng này, qua những gì đã được Phụng vụ gợi ý, nhất là trong “ Thánh Lễ Đại Trào”, trong đó Đức Giám Mục Giáo phận cử hành Thánh Lễ tại nhà thờ chính toà cùng các linh mục, các phó tế, và với sự tham dự mọi thành phần Dân Chúa. Tại đó chúng ta được chứng kiến “sự biểu thị ” nền tảng của Giáo Hội. (20) Cũng thật khuyến khích đề ra những việc làm mang nhiều ý nghĩa khác, trong phạm vi giáo xứ, để làm gia tăng cảm thức về sự hiệp thông và canh tân lòng mộ mến đối với Bí tích Thánh Thể .
Ngày của Chúa
23. Trong năm nay, tôi ước mong chúng ta hãy nỗ lực đặc biệt để tái khám phá và sống trọn vẹn Ngày Chúa Nhật như ngày của Chúa và của Giáo Hội. Tôi thật sự vui mừng nếu mọi người một lần nữa suy tư về những lời của tôi trong Tông thư Dies Domini . Quả thật, “ Chính vào ngày Chúa Nhật mà các Kitô hữu sống lại cảm xúc mãnh liệt mà các Tông Đồ đã trải nghiệm vào chiều ngày Chúa sống lại, khi Chúa Phục Sinh hiện ra với họ, giữa lúc họ đang nhóm họp để cầu nguyện ( Gio. 20, 19 ). Theo một nghĩa nào đó, Dân Thiên Chúa của mọi thời đại đã hình thành từ nhóm nhỏ môn đệ ấy, cũng là hoa trái đầu mùa của Giáo Hội ”. (21) Trong năm hồng ân này, các linh mục trong vai trò thừa tác viên mục vụ, phải chú tâm hơn nữa vào Thánh Lễ Chúa Nhật để việc cử hành lôi cuốn toàn thể cộng đoàn giáo xứ, với sự tham dự của các nhóm, các đoàn thể, và các tổ chức khác nhau.
IV. THÁNH THỂ NGUYÊN LÍ VÀ KẾ HOẠCH “ TRUYỀN GIÁO”
“ Ngay lúc ấy họ lên đường ” ( Lc. 24, 33 )
24. Hai môn đệ Emmaus, khi nhận ra Chúa, “ đã lên đường ngay ” ( Lc. 24, 33 ) để thuật lại tất cả những gì họ đã thấy và đã nghe. Một khi đã thật sự đón nhận Chúa Phục Sinh nhờ tham dự vào mình và máu Người, chúng ta không thể giữ lại niềm vui cho riêng mình. Sự gặp gỡ Chúa Kitô, luôn được tăng cường và đào sâu trong Thánh Thể, khơi dậy trong Giáo Hội và trong mỗi Kitô hữu lời kêu gọi khẩn thiết làm chứng và loan báo Tin Mừng. Tôi muốn nhấn mạnh điểm này trong bài giảng công bố Năm Thánh Thể, dựa trên lời của Thánh Phaolô: “ Mỗi khi anh em ăn bánh và uống chén này, anh em loan truyền sự chết của Chúa cho tới khi Người đến” ( 1 Cor 11, 26 ). Các Tông Đồ nối kết chặt chẽ tiêc thánh thể với sự rao giảng: hiệp thông với Chúa Kitô trong cuộc Vượt Qua của Người cũng có nghĩa là ý thức phận vụ làm sứ giả loan truyền cho biến cố được tái hiện trong nghi thức ấy . (22) Lời giải tán vào cuối mỗi Thánh lễ cũng là một mệnh lệnh được trao cho mỗi Kitô hữu, mời gọi họ dấn thân loan báo Tin Mừng và phát huy các giá trị Kitô giáo trong xã hội.
25.Thánh Thể không chỉ tạo nên sức mạnh nội tâm cần thiết cho sứ vụ - nhưng theo một nghĩa nào đó - còn đề ra kế hoạch ấy. Bởi Thánh Thể là một nguồn sống được Chúa Giêsu chuyển đạt cho mỗi Kitô hữu, nên chứng từ của họ cần phải thấm nhập vào trong môi trường xã hội và văn hóa. Để thực hiện điều này, mỗi thành phần tín hữu phải hoá nhập các giá trị mà Thánh Thể diễn tả, những thái độ sống mà Bí tích khơi dậy, những quyết tâm mà Bí tích gợi ra, qua việc suy niệm cá nhân cũng như cộng đoàn.
Để tạ ơn
26. Một yếu tố nền tảng cho kế hoạch này được tìm gặp trong chính ý nghĩa của từ ngữ “ Thánh Thể”: hành vi tạ ơn. Trong Chúa Giêsu, trong hiến tế của Người, trong “ lời xin vâng” vô điều kiện của Người theo ý Chúa Cha có tiếng “xin vâng”, tiếng “ cảm ơn ” và tiếng “ đồng ý” của toàn thể nhân loại. Giáo Hội được mời gọi nhắc nhở sự thật lớn lao này cho mọi người. Điều này lại hết sức thúc bách trong một thế giới bị tục hoá, mà nét nổi bật là sự cố tình gạt bỏ sự hiện hữu của Thiên Chúa và nỗ lực theo đuổi lòng tự mãn hão huyền của con người. Đưa “ kế hoạch” Thánh Thể vào trong đời sống thường ngày, vào bất cứ môi trường sống nào – gia đình, trường học, công sở- để làm chứng thực rằng thực tại nhân loại không thể tồn tại nếu không quy chiếu về Thiên Chúa: “ Không có Thiên Chúa thụ tạo sẽ bị huỷ diệt”. (23) Điểm quy chiếu siêu việt này nhắc nhở chúng ta luôn dâng lời cảm tạ về tất cả những gì chúng ta có và hiện hữu qua hành vi “ Thánh Thể”. Tuy nhiên nó không tách chúng ta khỏi vai trò tự lập chính đáng của những thực tại trần thế, (24) nhưng dẫn ta bước sâu hơn vào thực tại ấy để đặt nó vào đúng giới hạn của nó.
Trong Năm Thánh Thể này, ước gì các Kitô hữu dấn thân mạnh mẽ hơn nữa để làm chứng cho sự hiện diện của Thiên Chúa giữa lòng trần thế. Chúng ta không được sợ khi nói về Thiên Chúa, cũng không được ngại làm chứng cho niềm tin của mình. “ Văn hoá Thánh Thể ” mở ra văn hoá đối thoại và giúp nó tìm được sức mạnh cùng những dưỡng chất cần thiết. Thật là lầm lẫn khi nghĩ rằng bất cứ sự biểu lộ đức tin công khai nào cũng sẽ làm giảm, cách nào đó, vai trò tự lập chính đáng của Nhà Nước và của các tổ chức dân sự , hoặc cho rằng nó có thể cổ xuý những thái độ bất khoan dung tôn giáo. Nếu lịch sử cho thấy có những lầm lỗi do các tín đồ gây ra trong lãnh vực này, như tôi cũng đã có dịp nhìn nhận trong Đại Năm Thánh thì điều đó không được quy kết cho “ mầm mống Kitô giáo”, nhưng đúng ra đó là do các Kitô hữu không sống trung thành với căn cội của mình. Một người học nói lời “cảm ơn” theo gương Chúa Kitô chịu đóng đinh chỉ có thể là vị tử đạo, chứ không bao giờ là kẻ sát nhân.
Con đường liên đới
27. Thánh Thể không chỉ diễn tả sự hiệp thông trong đời sống Giáo Hội; nó còn kiến tạo một kế hoạch liên đới cho toàn thể nhân loại. Trong việc cử hành Thánh Thể Giáo Hội không ngừng canh tân vai trò là “ dấu chỉ và khí cụ” của mình , không chỉ bằng sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa mà còn trong sự liên đới với toàn thể nhân loại. (25) Mỗi Thánh lễ, dù được cử hành riêng hay kín đáo, vẫn luôn mang đặc tính hoàn vũ ấy. Kitô hữu tham dự vào Thánh Thể được học biết để trở thành người kiến tạo sự hiệp thông, hoà bình và liên đới trong mọi hoàn cảnh. Hình ảnh thế giới đầy nhiễu nhương của chúng ta hôm nay mở đầu cho Nghìn Năm mới với những bóng ma khủng bố và bi kịch chiến tranh, càng mời gọi các Kitô hữu hơn bao giờ hết sống Mầu nhiệm Thánh Thể như một trường học lớn dạy sự an hoà, nơi đó, người nam cũng như nữ , thuộc các tầng lớp khác nhau trong đời sống xã hội, văn hoá và chính trị, được đào luyện để trở thành những người kiến tạo sự hoà giải và hiệp thông.
Để phục vụ những người phận nhỏ
28. Còn một điểm nữa mà tôi muốn nhấn mạnh, vì nó là kết quả thiết thực của việc hiệp thông cộng đoàn với Bí tích Thánh Thể, đó là sự hối thúc mà Bí tích Thánh Thể đặt ra cho cộng đoàn để nỗ lực dấn thân để xây dựng một xã hội công bằng và huynh đệ hơn. Chính trong Thánh Thể Thiên Chúa đã tỏ lộ tình yêu của Người đến cùng, phá bỏ hết mọi tiêu chuẩn quyền bính vẫn thường thống trị các tương quan nhân loại để xác lập một tiêu chuẩn nền tảng, đó là sự phục vụ: “ Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và làm người phục vụ mọi người” ( Mc 9, 35 ). Không phải ngẫu nhiên mà Phúc Am Thánh Gioan lại bỏ qua biến cố thiết lập Bí tích Thánh Thể, để tường thuật “việc rửa chân” ( Gio 13, 1 – 20 ): khi quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ, Chúa Giêsu đã giảng giải ý nghĩa của Bí tích Thánh Thể cho các ông một cách tha thiết. Thánh Phaolô cũng tái xác nhận một cách mạnh mẽ về sự bất xứng của việc cử hành Thánh Thể khi thiếu vắng sự chia sẻ cụ thể dành cho người nghèo ( 1 Cor 11, 17 – 22, 27 – 34 ) .
Tại sao chúng ta lại không dùng Năm Thánh Thể này như một cơ hội để các giáo phận và giáo xứ dấn thân thực hiện một chương trình đặc biệt, qua những hoạt động bác ái huynh đệ, để làm giảm bớt muôn vàn hình thức nghèo túng đang hiện hình trong xã hội hôm nay? Tôi nghĩ đến thảm kịch nghèo đói đang đe doạ hàng trăm triệu con người, các căn bệnh đang hoành hành tại các nước đang phát triển, sự cô đơn của những người già yếu, cảnh thất nghiệp của các công nhân, sự phấn đấu tột cùng của những người di cư. Những tai hoạ này đang tác động – dưới nhiều mức độ khác nhau – ngay tại những khu vực trù phú nhất. Chúng ta không được lừa dối mình: chính bằng tình yêu hỗ tương, và bằng sự quan tâm đặc biệt đến những người thiếu thốn, mà chúng ta được nhìn nhận là những môn đệ đích thực của Chúa Kitô ( Gio. 13, 35; Mt 25, 31 46 ). Đây sẽ là tiêu chuẩn chứng minh cho tính xác thực của việc cử hành Thánh Thể .
KẾT LUẬN
29. O Sacrum Convivium, in quo Christus sumitur ! (Oi Tiệc Thánh Thể, Chúa Kitô trở nên thần lương!) Năm thánh Thể bắt nguồn từ sự chiêm ngưỡng thực tại mà Giáo Hội kính tôn như một mầu nhiệm trọng đại. Đó cũng là điều tâm hồn tôi không ngừng chiêm ngăm và suy niệm ,nó đã thúc đẩy tôi viết Thông điệp Ecclesia de Eucharistia . Hướng về năm thứ hai mươi bảy triều đại Giáo Hoàng của tôi, tôi cảm nhận điều đó như một hồng ân cao trọng và mời gọi toàn thể Giáo Hội chiêm ngắm, ca tụng, tôn thờ Bí Tích khôn tả này một cách đặc biệt. Xin cho Năm Thánh Thể trở thành một cơ hội quý giá cho hết mọi người vun trồng ý thức về kho tàng khôn sánh mà Chúa Kitô đã uỷ thác cho Giáo Hội của Người. Xin cho Năm Thánh Thể thúc đẩy mọi người biết nhiệt thành cử hành Thánh Thể, để làm cho đời sống Kitô hữu được biến đổi bằng tình yêu.
Tôi dành cho các Vị Mục Tử trong các Giáo Hội địa phương đề ra những sáng kiến để thực hiện Năm Thánh Thể. Bộ Phượng Tự và Kỷ Luật các Bí Tích sẽ sớm đưa ra những gợi ý và đề nghị hữu ích cho kế hoạch này. Tuy nhiên tôi không yêu cầu phải làm những việc quá đặc biệt bên ngoài, mà chỉ cần các sáng kiến ghi đậm chiều sâu nội tâm. Nếu thành quả đạt được là làm cho việc việc cử hành Thánh Lễ Chúa Nhật được sốt sắng trong mọi cộng đoàn Kitô hữu cũng như phát triển lòng tôn sùng Thánh Thể ngoài Thánh Lễ thì kết quả đó cũng đã thật mỹ mãn trong Năm hồng ân vậy. Tuy nhiên, thật là tốt đẹp để nhắm đến điều cao hơn chứ đừng hài lòng với cái tầm thường, bởi vì chúng ta luôn biết cậy trông vào sự trợ giúp của Thiên Chúa.
30. Thưa chư huynh Giám Mục thân mến, tôi giao phó Năm này cho chư huynh, và tin tưởng rằng chư huynh sẽ đón nhận lời mời gọi của tôi với tất cả lòng nhiệt thành tông đồ.
Các linh mục thân mến, hằng ngày các con lặp lại lời thánh hiến, làm chứng nhân và người loan báo phép lạ tình yêu vĩ đại xảy ra ngay trên bàn tay các con, hãy luôn tự vấn, nhờ hồng ân của Năm đặc biệt này, để cử hành Thánh Lễ mỗi ngày với niềm hân hoan và sốt sắng như cử hành Thánh lễ đầu tiên, và các con hãy sẵn lòng dành nhiều thời giờ cầu nguyện trước nhà tạm.
Các Phó tế, ước gì Năm này cũng là năm hồng ân cho các con, những người dấn thân một cách đặc biệt cho thừa tác vụ Lời Chúa và bàn thờ. Cha mong muốn các con, các thầy đọc sách, các thầy giúp lễ và các thừa tác viên Thánh Thể đặc biệt, càng ngày càng ý thức hơn hồng ân đã lãnh nhận trong vai trò đã được trao phó, để xứng đáng hơn với việc cử hành Thánh Thể.
Cha đặc biệt kêu gọi các con, những linh mục tương lai. Trong thời gian còn ở chủng viện, các con hãy cố gắng cảm nghiệm vẻ đẹp không chỉ của việc tham dự Thánh Lễ hằng ngày, mà còn dành nhiều thời gian để tâm sự với Chúa Giêsu Thánh Thể.
Các tu sĩ nam nữ, các con đã được kêu gọi để sống tận hiến và chiêm niệm đặc biệt hơn, các con hãy nhớ rằng Chúa Giêsu trong Nhà Tạm đang chờ đợi các con đến bên Người, để Người đong đầy tâm hồn các con kinh nghiệm về tình bạn chí thân , là điều duy nhất làm cho đời sống các con nên ý nghĩa và trọn hảo.
Các Kitô hữu, ước gì anh chị em tái khám phá ân huệ của Thánh Thể như là ánh sáng và sức mạnh cho mỗi ngày sống của anh chị em giữa lòng trần thế, trong hoạt động nghề nghiệp, và trong nhiều cảnh ngộ khác nhau. Hãy nỗ lực tái khám phá điều đó để sống trọn vẹn sự cao đẹp trong ơn gọi gia đình.
Các bạn trẻ, Cha đặt nhiều kỳ vọng nơi các con khi hướng về cuộc họp mặt sắp tới của chúng ta, Ngày Đai Hội Giới TrẻThế Giới tại Cologne. Chủ đề của cuộc họp mặt – “ Chúng ta hãy đến thờ lạy Người”- ( Mt 2, 2 ) có thể gợi lên cho các con những cảm nghiệm quý giá nhất để sống năm Thánh Thể. Hãy dâng cho Chúa Giêsu khi các con gặp Người trong Bí tích Thánh Thể tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ, tất cả niềm hi vọng, tất cả lòng khao khát yêu thương của các con.
31. Chúng ta có biết bao gương lành của các thánh. Các ngài đã tìm thấy lương thực cho mình trên con đường tiến tới sự thánh thiện trong Bí tích Thánh Thể. Biết bao lần các ngài đã cảm động đến rơi lệ khi diện kiến mầu nhiệm cực trọng này, và không biết bao lần các ngài đã trải qua hàng giờ trong niềm vui “ ngây ngất” trước nhà tạm Chúa! Và trên hết, xin Mẹ Maria, Đấng đã đón nhận mầu nhiệm Thánh Thể cho suốt cuộc đời mình, nâng đỡ chúng ta. “ Giáo Hội nhìn lên Mẹ Maria như gương mẫu của mình, cũng được mời gọi bắt chước Mẹ trong sự kết hiệp với mầu nhiệm rất thánh này”. (26) Bánh Thánh Thể mà chúng ta đón nhận là thịt tinh sạch của Con Mẹ: Ave verum corpus natum de Maria Virgine - Lạy xác thể chí thánh sinh bởi Mẹ Đồng Trinh –. Trong Năm hồng ân này, ước gì Giáo Hội, được Mẹ Maria nâng đỡ, tìm thấy nguồn hăng say mới cho sứ vụ của mình và nhận thức hơn rằng Thánh Thể chính là nguồn mạch và đỉnh cao cho tất cả đời sống của mình.
Xin gửi đến tất cả Phép lành của tôi như
bảo chứng của ân sủng và niềm vui!
Từ Vatican, ngày 7 tháng 10 năm 2004, lễ kính Đức Mẹ Mân Côi, năm thứ hai mươi sáu triều đại Giáo Hoàng của tôi.
JOANNES PAULUS PP. II
 
 
 
(1) Gaudium et Spes, 45.
(2) Cf. ibid., 22.
(3) No. 55: AAS 87 (1995), 38.
(4) Cf. Nos. 32-34: AAS 90 (1998), 732-734.
(5) Cf. Nos. 30-32: AAS 93 (2001), 287-289.
(6) Ibid., 35: loc. cit., 290-291.
(7) Cf. Tông thư Rosarium Virginis Mariae (16 Tháng Mười, 2002), 19-21: AAS 95 (2003), 18-20.
(8) Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17 Tháng Tư, 2003), 53: AAS 95 (2003), 469.
(9) Cf. No. 51.
(10) Ibid., 7.
(11) Cf ibid., 52.
(12) Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17 Tháng Tư, 2003), 10: AAS 95 (2003), 439.
(13) Cf. Gioan Phaolô II, Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17 Tháng Tư, 2003), 10: AAS 95 (2003), 439.
(14) Cf. Thông điệp Mysterium Fidei (3 Tháng Chín, 1965), 39: AAS 57 (1965), 764;
(15) Cf. Sứ điệp Spiritus et Sponsa, (4 Tháng Mười Hai 2003), 13: AAS 96 (2004), 425.
(16) Cf. Thánh Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật các Bí tích, Instruction Redemptionis Sacramentum về một số vấn đề phải giữ và nên tránh liên quan đến Bí tích Thánh Thể ( 25 March 2004): L'Osservatore Romano, ấn bản tiếng Anh, 28 Tháng Tư, 2004, Số đặc biệt.
(17) Cf. ibid., 137, loc. cit., p.11.
(18) Cf. Gioan Phaolô II, Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17 Tháng Tư, 2003), 44: AAS 95 (2003), 462
(19) Cf. Gioan Phaolô II, Tông thư Novo Millennio Ineunte (6 Tháng Giêng, 2001), 43: AAS 93 (2001), 297.
(20) Cf. Sacrosanctum Concilium, 41.
(21) No. 33: AAS 90 (1998), 733.
(22) Cf. Bài giảng Lễ Mình Máu Chúa Kitô (10 Tháng Sáu, 2004): L'Osservatore Romano, 11-12 Tháng Sáu, 2004, p.6.
(23) Gaudium et Spes, 36.
(24) Ibid.
(25) Cf. Lumen Gentium, 1.
(26) Gioan Phaolô II, Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17 Tháng Tư, 2003), 53: AAS 95 (2003), 469.