Showing posts with label BUỒN VUI CÙNG KIẾP NGƯỜI. Show all posts
Showing posts with label BUỒN VUI CÙNG KIẾP NGƯỜI. Show all posts

Saturday, March 28, 2020

XIN CHA CHO CHÚNG CON LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY


“Xin Cha cho chúng con lương thực hằng ngày”


1) “Lương thực” vật chất
Khi đọc những dòng chữ “Xin Cha cho chúng con lương thực hằng ngày” của Kinh Lạy Cha, chúng ta thường nghĩ đến của ăn vật chất, nghĩa là cầu xin Thiên Chúa ban cho chúng ta cơm ăn hằng ngày.
Điều này xuất phát từ nhu cầu thực tế của chúng ta, từ những lo lắng hằng ngày của con người. Vẫn còn đó những người cha, những người mẹ tối đến đi ngủ với nỗi đau không đủ lương thực cho con cái vào ngày mai; vẫn còn đó những con người sống trong những căn chòi tạm bợ thiếu những gì cần thiết cho cuộc sống, vẫn còn đó những con người kiếm sống hằng ngày tự nói với mình “rồi ngày mai không biết có cái gì để ăn?”.
“Lương thực” mà chúng ta cầu xin là đồ ăn thức uống, mà thông thường chúng ta nói “xin cho chúng con hằng ngày dùng đủ”, như vậy là “mãn nguyện” rồi, “chỉ cần như vậy thôi”. “Lương thực” còn là những điều khác nữa cho cuộc sống của con người, chẳng hạn thuốc men, nhà cửa, công việc. Lời cầu xin này cho thấy một điều là chúng ta không thể tự mình là đủ, mà mỗi ngày chúng ta cần được nuôi dưỡng, và chúng ta cần một Đấng trợ giúp và ban ơn.[1]

2) “Lương thực” thiêng liêng: Thánh Thể
“Lương thực” chúng ta cầu xin, trên hết, là lương thực nuôi sống linh hồn chúng ta. Các Kitô hữu cần thần lương tuyệt vời là Bánh Hằng Sống, là Thánh Thể Chúa Kitô.
 Con người chúng ta không chỉ là thân xác được nuôi dưỡng bởi đồ ăn thức uống; chúng ta vẫn thường xuyên chăm sóc cho thân thể của mình. Con người chúng ta còn có một điều gì đó thiêng liêng và cao cả, là “linh hồn”. Con người khác biệt với tất cả các loài động vật khác, đặc biệt vì con người còn là linh hồn. Con người suy nghĩ, biện luận, ước muốn và yêu mến; biết điều gì tốt và điều gì xấu. Linh hồn con người không mất đi khi thân xác qua đời, nhưng bắt đầu một cuộc sống mới, không bao giờ kết thúc. Nếu con người làm điều tốt, linh hồn sẽ luôn được chúc phúc trên thiên đàng với Chúa; đó là nơi dành cho tất cả những người công chính.
Mỗi người chỉ có một linh hồn mà thôi, nhưng “được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn nào được ích gì” (Mt 16,26). Don Bosco nói cho chúng ta: “Bạn có một linh hồn; nếu bạn mất nó, bạn sẽ mất tất cả. Nếu bạn có được cả thế giới mà mất linh hồn, thì bạn sẽ như thế nào? Nếu bạn trở thành một người giàu có, danh tiếng, khôn ngoan, thông suốt về nghệ thuật và khoa học, âm nhạc, nhưng bạn mất linh hồn, điều đó có ích lợi cho bạn không?”[2] Như thế, linh hồn phải là mục đích cho hành động của chúng ta. Vì vậy, chúng ta cần thiết cầu xin lương thực hằng ngày nuôi sống linh hồn chúng ta, giúp chúng ta nếm hưởng hạnh phúc đời đời và sự sống vĩnh cửu.[3]
Nhưng hiện nay, chúng ta lại không thể có lương thực đó, khi mà trong mùa đại dịch “coronavirus”, nhiều nơi trên thế giới tạm ngưng các Thánh Lễ có giáo dân tham dự. Tại Việt Nam, bắt đầu từ thứ năm ngày 26 tháng 3 năm 2020, sau đó vào thứ bảy trước Chúa Nhật V mùa Chay, các tín hữu sẽ không có cơ hội tham dự Thánh Lễ tại các ngôi nhà thờ thân thương. Đây là một quyết định đúng đắn và khôn ngoan, cho dẫu là một quyết định khó khăn và đau đớn cho các chủ chăn và cho các tín hữu. Nhiều người cảm thấy như là một cú sốc đến với mình: “không thể như thế”, “trong lúc khó khăn, khi chúng con cần nhất lại không có”. Cũng dễ hiểu thôi! Bởi lẽ, đây không phải vì tình trạng thiếu các linh mục như ở những vùng sâu vùng xa, hay ở các miền truyền giáo, hay vì khoảng cách địa lý xa xôi hoặc thiếu phương tiện đi lại, mà các tín hữu không thể đến nhà thờ. Nhưng thời gian này là một ngăn trở thực sự. Có linh mục và có nhà thờ, lại không có Thánh Lễ cho giáo dân, là để phòng ngừa bệnh tật cho chính mình và cho người khác, trong viễn cảnh bệnh dịch lây lan nhanh chóng, lây lan “cấp số nhân”, và nhiều quốc gia trên thế giới đang trở tay không kịp.
Đức Giêsu trong bữa Tiệc Ly thiết lập Bí tích Thánh Thể: “Đây là mình Thầy, đây là máu Thầy”, “hiến tế vì các con”, vì ơn cứu độ của loài người (Mt 26,26-29; Mc 14,22-25; Lc 22, 19-20). Vì thế, Thánh Thể là nguồn mạch của ơn cứu độ, là nguồn bình an và phúc lành cho con người, là trung tâm và chóp đỉnh của đời sống Giáo Hội (x. LG 11). Chính Đức Giêsu cũng trong bữa Tiệc Ly truyền cho các môn đệ “hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (1 Cr 11,23-25).
Mỗi ngày linh mục dâng Thánh Lễ thông dự vào hiến tế của Chúa Giêsu, lập lại cử chỉ “bẻ bánh” của Ngài, trao hiến cho nhân loại, nuôi sống linh hồn con người. Khi linh mục đọc những lời truyền phép trên bánh và rượu, thì bánh biến đổi thành thịt của Chúa Giêsu Kitô và rượu biến đổi thành máu của Ngài. 
Khi Rước Lễ, chúng ta rước chính Chúa Giêsu làm của ăn thiêng liêng cho linh hồn chúng ta. “Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời; và bánh Ta ban tặng chính là thịt Ta đây để cho thế gian được sống” (Ga 6,51) Khi chúng ta rước lễ, chúng ta rước chính Chúa Giêsu Kitô: thịt, máu, linh hồn và thiên tính của Ngài, đó là chính Chúa Giêsu Kitô được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria vô nhiễm và cũng chính là  Chúa Giêsu Kitô chết trên thánh giá vì chúng ta.
Như vậy, khi không tham dự Thánh Lễ và không được Rước Lễ, chúng ta đang bắt đầu “đói”, “khát” của ăn thiêng liêng cho linh hồn chúng ta. Và đây là ý nghĩa cao cả của những lời trong Kinh Lạy Cha: “Xin Cha cho chúng con lương thực hằng ngày”. Chúng ta cầu xin cho dịch bệnh mau qua, chúng ta cầu xin có Thánh Lễ hàng ngày, được Rước Lễ mỗi ngày, rước “lương thực” tuyệt vời chính là Bánh Hằng Sống, là Thánh Thể Chúa Kitô, nuôi sống linh hồn chúng ta.

3) Kinh nguyện gia đình và Rước Lễ thiêng liêng
Chắc chắn nhiều người sẽ cảm thấy thiếu một điều gì đó quý giá khi không có Thánh Lễ hàng ngày. Vì vậy, chúng ta được mời gọi thực hành những việc đạo đức thiêng liêng khác: cầu nguyện riêng, cầu nguyện chung trong gia đình, suy niệm Lời Chúa, lần hạt Mân Côi và sốt sắng tham dự Thánh Lễ trực tuyến (online).
Nhiều năm trước, gia đình của một anh bạn ở vùng sâu vùng xa, không có nhà thờ và cũng không có phương tiện để đi một quãng đường mấy chục cây số để tham dự Thánh Lễ. Mỗi ngày Chúa Nhật cả gia đình anh quy tụ trong phòng khách, tham dự Thánh Lễ quanh chiếc “Radio” theo kênh Đài chân lý Á Châu. Điều này cũng giúp nuôi dưỡng đời sống đạo của cả gia đình anh. Vì thế, thời gian này cũng là dịp chúng ta lấy lại giá trị của giờ kinh chung trong gia đình, lấy lại giá trị của “phòng khách” nơi đặt bàn thờ Chúa, nghĩa cùng nhau lần hạt, cầu nguyện chung, cùng nhau đọc kinh sáng tối trong gia đình, và sốt sắng tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật online trước bàn thờ Chúa. [4]
Một việc cần thiết thực hiện trong thời gian này là Rước Lễ thiêng liêng. Đây là một việc sùng kính riêng tư để đón rước Chúa Giêsu Thánh Thể vào linh hồn cách thiêng liêng khi việc Rước Lễ thực sự không thể thực hiện được vì bất cứ lý do nào đó, nghĩa là trong hoàn cảnh hiện nay khi chúng ta không thể tham dự Thánh Lễ. Thánh Josémaria Escrivá khuyến khích mỗi người chúng ta thường xuyên Rước Lễ thiêng liêng. “Thật là một ân sủng được tìm thấy qua việc Rước Lễ thiêng liêng. Thực hành điều này thường xuyên, bạn sẽ cảm nhận sự hiện diện lớn lao của Thiên Chúa và kết hợp chặt chẽ với Ngài hơn trong mọi hành động của mình”.
 Chúng ta có thể đọc lời nguyện của thánh Anphongsô Liguori cho việc Rước Lễ thiêng liêng: “Lạy Chúa Giêsu, con tin thật Chúa ngự trong Bí tích Mình Thánh. Con yêu mến Chúa trên hết mọi sự, cùng ước ao rước Chúa vào linh hồn con. Nhưng, bởi vì bây giờ con không thể rước Chúa được, thì xin Chúa ngự vào linh hồn con cách thiêng liêng, chẳng khác gì như con được rước Chúa thật. Con xin đón rước Chúa, cùng kết hợp làm một với Chúa cho trọn. Xin Chúa đừng để con lìa bỏ Chúa bao giờ”.
Lm. Fx. Phạm Đình Phước SDB
Chúa Nhật V mùa Chay, 29/03/2020



[1] X. Phanxicô, Bài giáo lý chung về Kinh Lạy Cha, 27.03.2019 (www.vatican.va)
[2] Giovanni Bosco, Giovane provveduto, Torino 1847, 10.
[3] X. Augustinô, thư gửi cho Pơrôba về Kinh Lạy Cha: các bài đọc kinh sách thứ ba tuần 29 thường niên.
[4] Đây cũng là dịp nghĩ tới và mở ra (đăng ký chính thức) một kênh truyền hình (TV) hay một kênh Radio Công Giáo toàn quốc? Như thế, có thể giúp giáo dân tham dự Thánh Lễ trực tuyến và cầu nguyện sốt sắng hơn, vì lẽ đường truyền internet sẽ thiếu ổn định, hoặc muôn vàn hình thức “tin nhắn” và điện thoại có thể quấy rầy lúc dự lễ online. Đây là “lúc thuận tiện” chăng?

Tuesday, February 5, 2019

KÍNH NHỚ TỔ TIÊN: BIẾT ƠN VÀ HIẾU THẢO




Biết ơn và thảo hiếu
Kính thưa quý cha, quý tu sĩ nam nữ, quý OBACE,
Mấy ngày gần đây, một cụm từ xuất hiện trên các báo đài và nơi môi miệng của nhiều người là “về quê ăn tết”. Khó khăn lắm mới có vé xe, vé tàu, vé máy bay; phải mua từ rất sớm. Rất nhiều người đi xe “honda”, bế theo những đứa con nhỏ, có em đang ngủ trên tay của mẹ, đồ đạc lỉnh kỉnh, lên đường giữa trời nắng nóng. Tất cả chỉ mong muốn về quê ăn tết. Về quê ăn tết, thực sự là về với gia đình, về với ông bà, cha mẹ, với anh chị em của mình; về nơi mình sinh ra và lớn lên, về với nơi chất chứa bao kỷ niệm của cuộc đời con người.
Với ý nghĩa đó, chúng con, những người con xa quê, xa gia đình: linh mục, tu sĩ nam nữ, sinh viên học sinh, công nhân, những người làm ăn xa quê hương, về quê ăn tết, quy tụ nơi đây, cử hành thánh lễ này.
Giáo Hội Việt Nam dành ngày mồng hai tết để kính nhớ tổ tiên, ông bà cha mẹ. Dưới ánh sáng của Lời Chúa hôm nay, con xin chia sẻ hai điều: Biết ơn và hiếu thảo.

1) Biết ơn
Ông bà, cha mẹ, những bậc cao niên là một ân huệ, một hồng ân.
Biết ơn vì hồng ân sự sống. Cha mẹ cộng tác với Thiên Chúa sinh thành nên chúng ta, cho chúng ta thành người, giúp chúng ta càng thêm tuổi càng thêm khôn ngoan và nhân đức.
“Công cha như núi ngất trời,
Nghĩa mẹ như nước ngời ngời biển đông.
Núi cao biển rộng mênh mông,
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!”
Cù lao chín chữ là những chữ gì? Sinh đẻ, nâng đỡ, dạy dỗ, trìu mến, cho bú sữa, nuôi khôn lớn, trông nom, ôm ấp, bảo vệ. Những chữ này cho thấy công ơn của cha mẹ, ông bà. Chúng ta sinh ra đã là người, nhưng để “trở thành người” chúng ta cần các ngài chăm sóc và dạy dỗ chúng ta.
Các ngài giáo dục chúng ta, giúp chúng ta giáo dục con cái, cho chúng ta những kinh nghiệm sống, chuyển giao lịch sử gia đình, cộng đoàn.
 Biết ơn vì hồng ân đức tin. Làm dấu thánh giá: ai cũng biết là “Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần”. Làm dấu thánh giá bằng tay phải, tại sao? Tại sao không làm bằng tay trái, cho dẫu nhiều người thuận tay trái? Tại sao khi đọc “Thánh Thần” chúng ta đưa tay từ bên trái sang bên phải? Chúng ta biết rằng trong Mátthêu chương 25, khi nói về cuộc phán xét chung, Chúa Giêsu ngự đến trong vinh quang, tách người tốt và người xấu; người tốt bên phải và kẻ xấu ở bên trái. Vì thế, cuộc đời của chúng ta là một hành trình trở nên tốt, “trở thành người tốt”; mỗi phút giây, chúng ta xin Thánh Thần thánh hóa chúng ta trở nên tốt, trở thành người tốt, để chúng ta sẽ được hưởng vinh quang sự sống đời đời.
Ông bà cha mẹ chúng ta đã hơn một lần dạy chúng ta làm dấu thánh giá. Khi chúng ta còn thơ bé, nhiều lần cha mẹ nói “làm dấu đi con”; khi chúng ta không biết phải “quơ tay” như thế nào cho đúng, cha mẹ nhiều lần cầm tay chúng ta đặt trên trán, đưa xuống ngực, từ vai trái qua vai phải; đặc biệt khi có người lớn, khi có ai đó viếng thăm, cha mẹ chúng ta khích lệ “con ngoan, làm dấu đi con”, “làm dấu cho ông xem nè, cho bà xem nè”.
Cha mẹ chúng ta dạy chúng ta râm ran cầu nguyện, với những lời kinh đơn sơ. Cha mẹ giúp chúng ta tin vào một Thiên Chúa duy nhất, Đấng yêu thương và quan phòng cho con người (Câu chuyện người mẹ của nhà Macabê).

2) Hiếu thảo
Vì biết ơn, chúng ta được mời gọi thể hiện lòng hiếu thảo với ông bà cha mẹ.
“Ai còn mẹ, xin đừng làm mẹ khóc,
Đừng để buồn trên mắt mẹ nghe không.
Ai còn cha, xin đừng làm cha khổ,
Hãy nhớ lời đạo hiếu làm người”.
Tại một gia đình nọ, sau khi cha mẹ đã tảo tần, dãi nắng dầm sương, hy sinh tất cả cho gia đình, con cái, đến tuổi già, người mẹ ở với đứa con trai. Nhưng tiếc thay, người con trai và cả con dâu luôn khó chịu về tuổi già, về bệnh tật của mẹ, để rồi một ngày, mẹ không còn nữa, anh mới nhận được những dòng chữ của mẹ anh viết, để lại cho anh.
“Con trai yêu quý của mẹ,
Khi mẹ không còn trong cuộc đời, con sẽ đọc những dòng chữ này.
Con có biết, khi con còn nhỏ, mỗi khi thay đồ cho con, khó khăn lắm, có khi mẹ phải chạy vòng vòng quanh nhà theo con, mới thay đồ được cho con. Giờ đây, mẹ nằm một chỗ, con thay đồ cho mẹ, con cằn nhằn tay chân mẹ lọng cọng quá’, thay đồ cho mẹ khó lắm, mẹ tự thay cho mình được không? Mẹ xin lỗi con, mẹ không tự thay đồ được nữa!
Con à, khi con còn nhỏ, mỗi lần cho con ăn, mẹ phải dỗ dành bằng nhiều cách mới đút được cho con, có khi mẹ phải bồng con qua nhà hàng xóm để con có bạn cùng ăn. Khi con bắt đầu tự ăn, cũng là lúc con bắt đầu vung vãi. Vậy mà giờ đây, mẹ nằm một chỗ, con đút cho mẹ chén cơm, rớt một vài hột cơm, con cằn nhằn, la mắng mẹ. Mẹ xin lỗi, mẹ không tự mình ăn cơm được!
Khi con còn nhỏ, mẹ bế con đi khắp xóm làng, chở con đi đây kia dạo chơi. Giờ đây, đỡ mẹ lên một chút từ giường bệnh, con khó chịu mệt nhọc. Mẹ xin lỗi, mẹ không tự đi được nữa!”
....
Ngày xuân chúng ta quây quần bên nhau, xum vầy bên ông bà cha mẹ, không chỉ để chúc xuân, mừng tuổi, nhân phong bì lì xì, gởi tặng chút quà, tấm bánh; nhưng quan trọng là để chúng ta biết ơn và tỏ lòng hiếu thảo, và nhận được sự chúc lành từ các ngài. “Hãy ca tụng những vĩ nhân và các tổ phụ chúng ta” (Hc 44,1); “Hãy thảo kính cha mẹ” (Mt 7,13); “Hãy tôn kính và chăm sóc cha mẹ, để ngươi được phần phúc và sống lâu dài” (Ep 6,1-4).
Nguyện xin Chúa chúc lành và trả công bội hậu cho các bậc sinh thành. Ước gì khi mừng tuổi ông ba cha mẹ, chúng ta cũng biết chăm sóc và hiếu thảo để đền đáp công ơn các ngài. Amen!
Lm. Fx. Phạm Đình Phước SDB
Gx. Vinh An, mồng 2 Tết Kỷ Hợi (05/02/2019)

Wednesday, July 24, 2013

VUI SỐNG ĐỨC TIN


 

DẪN NHẬP

Với tự sắc “Porta Fidei” - “Cánh cửa Đức Tin”, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI kêu mời toàn thể Giáo Hội sống Năm Đức Tin, một thời gian ân sủng và là lời mời gọi trở về với Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ duy nhất, Đấng biểu lộ tình yêu cho con người. Ngài cũng mời gọi cho các tín hữu tuyên xưng đức tin của mình được chất chứa trong Kinh Tin Kính với niềm tín thác và hy vọng (Porta fidei, số 8-9). Bên cạnh đó, những hướng dẫn của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin khích lệ chúng ta suy tư những giáo huấn của Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI;[1] những bài giáo lý, các bài giảng và những diễn từ của ngài là một kho tàng quý giá cho đời sống đức tin của các Ki-tô hữu.

Là con người, đặc biệt là những Ki-tô hữu, chúng ta ai cũng mơ ước và đi tìm niềm vui sống. Niềm vui xuất phát từ một tâm hồn có đức tin mạnh mẽ, bởi vì niềm vui này xuất phát từ Đức Ki-tô, là Tin Mừng được loan báo cho chúng ta. Tin Mừng luôn là một lời mời gọi con người sống vui tươi. “Những điều này, chúng tôi viết ra, để niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn” (1Ga 1,4). Đức tin làm cho cuộc sống của chúng ta tươi trẻ,[2] mở ra cho chúng ta niềm hy vọng. Niềm hy vọng cao cả và thật sự vững vàng của con người, ngay cả trong mọi nỗi tuyệt vọng, chỉ có thể là Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương chúng ta và tiếp tục yêu thương chúng ta đến cùng (x. Ga 13,1).

Niềm vui đức tin khởi sự từ tình yêu và chân lý, là đức tin vào Thiên Chúa, Đấng là Cha toàn năng, tạo thành trời đất muôn vật; Đấng là nguồn mạch của mọi chân lý con người, là Đấng mà con người đón nhận ý nghĩa cuộc sống và là cùng đích của con người, cũng như là niềm hy vọng của họ trong cuộc đời. Chỉ một mình Thiên Chúa mới khiến cho con người hạnh phúc.[3] Tất cả thụ tạo, kể cả con người, phải quy hướng về Ngài, là Thiên  Chúa duy nhất, Đấng tạo thành mọi sự. “Hãy lấy Chúa làm niềm vui của bạn” (Tv 37,4), có như thế “Anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang” (1Pr 1,8).

Thiên Chúa không ai thấy bao giờ (x. Ga 1,18), nhưng Ngài trở nên hữu hình trong Người Con duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô, Đấng mạc khải và tỏ lộ Tình Yêu, Đấng đã đến để đưa con người trở về với Chúa. Niềm vui của chúng ta thể hiện trong đức tin vào Đức Giê-su, là Tình Yêu. Vì yêu thương Người đã tự hạ mình, chia sẻ thân phận con người của chúng ta; Người giảng dạy, chữa lành, nâng đỡ, chạnh lòng thương xót và mang ơn cứu cho nhân loại. Chúng ta cũng hân hoan vui sướng bởi vì chúng ta ý thức rằng chỉ có Chúa Ki-tô mới có thể làm thỏa mãn hoàn toàn những khát vọng sâu xa của con người và chỉ có Người mới có thể đáp ứng những vấn nạn nhức nhối nhất về đau khổ, về bất công, về sự dữ, về sự chết và sự sống đời sau.[4] Vì thế, cần nỗ lực mạnh mẽ để mỗi một Ki-tô hữu trở nên chứng nhân, có khả năng và sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của mình (x. 1 Pt 3,15). Để thực hiện điều này, chúng ta cần phải hân hoan loan truyền biến cố tử nạn và Phục Sinh của Chúa Ki-tô, tâm điểm của Ki-tô giáo và là vẽ đẹp của đức tin, là điểm qui chiếu cho niềm xác tín và cho đức tin của chúng ta.

Niềm vui của chúng ta còn thể hiện nơi đức tin vào Chúa Thánh Thần, Đấng là Sự Sống và là Tình Yêu. Đấng sáng tạo và “thổi sinh khí” mang lại cho chúng ta sự sống. Chúa Thánh Thần là hồng ân cao cả nhất của Thiên Chúa dành cho con người, và như thế là lời chứng cao cả nhất của tình yêu Thiên Chúa cho chúng ta, một tình yêu được diễn tả cách cụ thể qua “lời thưa vâng đón nhận sự sống”[5] mà Thiên Chúa muốn cho mỗi tạo vật của Ngài. Chúa Thánh Thần canh tân nội tâm và ban cho chúng ta sức mạnh để chúng ta dũng cảm rao giảng Chúa Ki-tô và Tin Mừng của Người. Chúa Thánh Thần là “Ðấng an ủi” sẽ đến và sứ mạng của Ngài là làm chứng và trợ giúp cho những kẻ tin, vừa dạy họ và hướng dẫn họ đến Sự Thật toàn vẹn (x. Ga 14,16-17). Chúng ta sẽ thăng tiến đời sống đức tin, “được bình an, được xây dựng vững chắc và sống trong niềm kính sợ Chúa, và ngày một thêm đông, nhờ Thánh Thần nâng đỡ” (Cv 9,31).

Các Ki-tô hữu sẽ cảm nghiệm được niềm vui khi tuyên xưng cùng một đức tin duy nhất trong Giáo Hội, Thân Thể nhiệm mầu của Đức Ki-tô. Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền là một dân mới, dân Thiên Chúa và dân này trở thành một dân tộc phổ quát, là Giáo Hội của Đức Ki-tô. Chúng ta trở thành anh chị em với nhau trong đại gia đình Giáo Hội. Niềm vui sẽ lan tỏa trong Giáo Hội, vì trong Giáo Hội chúng ta biểu lộ sự hiệp thông, phục vụ và yêu thương mọi người. Ai sống yêu thương, thì người đó quên mình và phục vụ tha nhân. Thế giới sống trong sự đa biệt, nhưng trong Giáo Hội chúng ta diễn tả một tâm hồn, cùng một lời rao giảng, cùng một giáo huấn, cùng một truyền thống, dường như thể phát xuất từ cùng một môi miệng.[6] Ngôn ngữ trên thế giới thật khác nhau, nhưng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất và một đức tin duy nhất.

Đức tin sẽ đem lại cho chúng ta niềm vui, vì chúng ta có một người mẹ trong đức tin: Mẹ Ma-ri-a. Toàn bộ cuộc sống của Mẹ Ma-ri-a kết hiệp với Chúa Giê-su. Là “Ðấng được Thiên Chúa yêu thương”, Mẹ tín thác vào Thiên Chúa, vào Người Con. Trong biến cố Truyền Tin, sứ thần gọi Đức Ma-ri-a là “Đấng đầy ân sủng”; trong tiếng Hy Lạp hạn từ “charis - ân sủng” có cùng một căn ngữ với từ “niềm vui”.[7] Như thế, nguồn gốc niềm vui của Mẹ Ma-ri-a cũng được làm sáng tỏ thêm: niềm vui đến từ ân sủng, nghĩa là, từ sự hiệp thông với Thiên Chúa. Với tiếng “xin vâng”, Mẹ đã mở cửa thế giới chúng ta cho chính Thiên Chúa. Mẹ là “ngôi sao của niềm hy vọng”, soi chiếu và đồng hành với chúng ta. Mẹ nói chúng ta: “Hãy can đảm trao hiến cho Thiên Chúa! Hãy cố gắng! Đừng sợ hãi! Hãy can đảm liều mình sống đức tin! Hãy can đảm liều mình sống tốt lành! Hãy can đảm liều mình sống bằng một con tim tinh tuyền, trong sạch! Hãy dấn thân cho Thiên Chúa, và các con sẽ thấy rằng chính nhờ làm thế mà cuộc sống của các con mới trở nên phong phú và nhẹ nhàng, không tẻ nhạt, nhưng tràn đầy niềm hân hoan, bởi vì lòng tốt vô biên Thiên Chúa không bao giờ cạn kiệt”.[8]

Niềm vui của chúng ta còn tỏ hiện rõ rệt hơn qua ân sủng của các bí tích, là cánh cửa của đức tin. Các bí tích nuôi dưỡng linh hồn và đời sống thiêng liêng của chúng ta, đời sống không bao giờ hư mất, đời sống vĩnh cửu. Qua các bí tích Rửa Tội, Thêm Sức và bí tích Thánh Thể, Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta trở thành con cái của Thiên Chúa, trở thành anh chị em của Chúa Giê-su, là thành viên của Giáo Hội, có khả năng trở thành những chứng nhân đích thực của Tin Mừng, và có thể nếm hưởng niềm vui và niềm hân hoan trong đức tin.[9] Khi thường xuyên tham dự Thánh Lễ, khi dành thời gian để tôn sùng bí tích Thánh Thể, thì chúng ta sẽ hân hoan dâng hiến cuộc sống cho các giá trị Tin Mừng. Đồng thời, chúng ta cũng có thể cảm nghiệm được rằng khi sức lực của chúng ta không đủ, thì Chúa Thánh Thần, Đấng biến đổi chúng ta, sẽ lấp đầy chúng ta bằng sức mạnh của Ngài và làm cho chúng ta trở nên những chứng nhân đầy nhiệt huyết của Đức Ki-tô Phục sinh.

Đức tin mang lại cho chúng ta niềm vui, vì chúng ta mang một niềm hy vọng, niềm hy vọng về đời sống vĩnh cửu cùng với Thiên Chúa. Thánh Âu-tinh cho rằng tận sâu thẳm tâm hồn chúng ta chỉ muốn một điều duy nhất: “cuộc sống đầy ơn phúc”, ước muốn “hạnh phúc”.[10] Đó là điều mà chúng ta xin Chúa ban trong những lời kinh nguyện của chúng ta. Cuộc lữ hành trần thế của chúng ta không có mục tiêu nào khác, tất cả chỉ nhằm mục đích đó. Sự sống đời đời, sự sống vĩnh cửu là niềm hy vọng phổ quát, chung cho tất cả mọi người, mọi nơi mọi lúc. Một sự sống và niềm vui trọn vẹn: đây là điều mà chúng ta hy vọng và chờ đợi từ sự hiện hữu của chúng ta với Chúa Ki-tô.[11] Đức Giê-su dẫn chúng ta bước qua biển Chết của thời đại này và dẫn chúng ta đến sự sống vĩnh cửu, sự sống công chính và đích thật. Chúng ta hãy nắm chặt lấy bàn tay của Người! Cho dẫu bất cứ điều gì xảy ra, chúng ta cũng không lìa bỏ đôi bàn tay này! Chúng ta hãy tiến bước trên con đường dẫn tới sự sống.[12]

Ước chi Mẹ Ma-ri-a, Đấng diễm phúc vì đã tin (x. Lc 1,45) đồng hành và giúp mỗi người chúng ta cảm nghiệm được rằng “niềm vui đời con là Chúa” (Tv 104,34) và giúp chúng ta khám phá niềm vui đức tin và hăng say thông truyền đức tin.

 

Ngày 11 tháng 02 năm 2013, lễ Đức Mẹ Lộ Đức

FX. Phạm Đình Phước SDB

 




[1] Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Những hướng dẫn mục vụ trong năm Đức Tin, phần I, số 7, 06.01.2012.
[2] Triết gia Soren Kierkergaard trong tác phẩm Sợ hãi và tôn kính ca ngợi đức tin của Áp-ra-ham, khẳng định rằng đức tin chính là niềm vui và sự tươi trẻ thiêng liêng: “Áp-ra-ham đã tin, vì thế ông có một tâm hồn trẻ trung, tràn đầy hy vọng [...]; người tín thác và tin tưởng vào Thiên Chúa sẽ gìn giữ con người mình tươi trẻ luôn mãi” (Soren Kierkegaard, Timore e tremore, Bur, Milano 1998, tr. 40)
[3] X. Raniero Cantalamessa (Giảng viên Phủ Giáo Hoàng), Bài giảng Chúa Nhật, 16.12.2007.
[4] X. ĐTC Bê-nê-đíc-tô XVI, Bài giảng tại sân vận động Bentegodi thành phố Verona (Ý), 19.10.2006.
[5] ĐTC Bê-nê-đíc-tô XVI, Sứ điệp ngày quốc tế giới trẻ, 20.07.2007.
[6] X. I-rê-nê thành Ly-on,  Adv. haereses, I, 10,2: ĐTC Bê-nê-đíc-tô XVI, Bài giảng trong thánh lễ Phê-rô và Phao-lô tông đồ, 29.06.2005.
[7] X. ĐTC Bê-nê-đíc-tô XVI, Bài giáo lý trong buổi tiếp kiến thứ tư hàng tuần, 19.12.2012.
[8] X. ĐTC Bê-nê-đíc-tô XVI, Bài giảng trong thánh lễ Mẹ Ma-ri-a Vô Nhiễm Nguyên Tội, 08.12.2005.
[9] X. ĐTC Bê-nê-đíc-tô XVI, Sứ điệp ngày quốc tế giới trẻ, 20.07.2007.
[10] X. Thánh Âu-tinh, Ep. 130 Ad Probam 14,25-15,28: ĐTC Bê-nê-đíc-tô XVI, Kinh truyền tin, 02.11.2008.
[11] X. ĐTC Bê-nê-đíc-tô XVI, Thông điệp Spe Salvi, số 12.
[12] X. ĐTC Bê-nê-đíc-tô XVI, Bài giảng trong đêm canh thức Phục Sinh, 22.03.2008.

Friday, June 28, 2013

NHƯ CON LỪA TÔI TIẾN BƯỚC



Cuộc sống hằng ngày đem lại cho hắn niềm vui và sự bình an trong tâm hồn, như bài hát mà hắn chế lời trong buổi tối sinh hoạt cộng đoàn: “Thật hạnh phúc mỗi khi cha con ở gần, lòng con như muốn nói lên trong tim muôn lời tri ân. Và mỗi lúc sống bên anh em của mình, là chính lúc thấy an vui, yêu thương và trao ban”.
Hắn bước đi theo Chúa, hắn tiến bước, từng bước, như con lừa Chúa Giê-su cỡi lên Giêrusalem ngày lễ lá.[1] Hắn bước đi, dáng điệu ung dung, an bình. Hắn chẳng biết những chuyện lớn lao. Hắn chỉ biết rằng mình được mang Chúa trên lưng, và như thế hắn thật hãnh diện rồi, còn hãnh diện hơn cả mọi thứ khác.
Hắn mang Chúa Giê-su trên lưng, nhưng chính Người lại soi đường dẫn lối cho Hắn. Hắn tin rằng Người sẽ dẫn hắn vào vương quốc của Người, vương quốc của tình yêu, ở đó hắn tha hồ nghỉ ngơi bên đồng cỏ xanh tươi.
Hắn tiến bước, từng bước nhỏ, trên những con đường dốc đá quanh co, xa hẳn những đại lộ dập dìu xe cộ với tốc độ kinh hoàng. Hắn vấp phải đá, chắc hẳn Chúa Giê-su cũng bị xóc, nhưng chẳng bao giờ Người trách mắng hắn. Quả kỳ diệu! Lòng Người nhân hậu và nhẫn nại với hắn. Người còn cho hắn có giờ chào thăm cô bạn bé nhỏ xinh xinh, có giờ mộng mơ trước cảnh thiên nhiên, đến quên cả cảnh đang chở Người trên lưng.
Hắn tiến bước, trong thinh lặng. Thật là điên rồ khi biết mà không nói, đàng khác lắm lúc Người hét vào tai hắn, mà hắn nghễnh ngãng chẳng nghe ra. Chỉ có lời này, như thể Người nói cho riêng hắn, hắn hiểu rõ và hắn làm chứng là thật: “Ách của Ta êm ái, gánh Ta nhẹ nhàng” (Mt 11,30).
Hắn lặng lẽ và sung sướng chở Mẹ của Người tiến về Betlem chiều ngày Noel: “Mẹ thật nhẹ nhàng, dù lòng Mẹ cưu mang cả tương lai trần thế” (Jules Supervielle).
Hắn tiến bước trong sướng vui. Khi hắn muốn hát bài ca ngợi, hắn cất giọng ồ ồ, làm ma chê quỉ hờn, nhưng Chúa chỉ cười rộng lượng. Tiếng cười ấy làm con đường mòn thành sân khấu cho những vũ điệu nhạc hay, làm đôi chân hắn vững bước, làm tai hắn nghe rõ lời Người, nghe cả tiếng tha nhân cầu khẩn, và những lúc như thế đã hình thành đường hắn đi.
Hắn tiến bước, tiến bước, như con lừa mang Chúa Ki-tô trên lưng.

Fx. Phạm Đình Phước SDB
(Dựa theo tâm tình của HY Roger Etchegaray, Tiro avanti come un asino, San Paolo, Roma 2007)


[1] “Giống lừa đất Palestine rất mạnh mẽ, chịu nắng khá tốt, ăn đủ mọi thứ gai góc; chúng có một loại móng chân đặc biệt giúp bước đi vững chắc. Việc nuôi nấng chúng cũng không tốn kém bao nhiêu. Tật xấu duy nhất của chúng là cứng đầu và lười biếng”.

Wednesday, May 29, 2013

3 NĂM LINH MỤC


 
Bài giảng của Đức TGM Mario Toso, SDB
Tổng Thư Ký Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hòa Bình
trong thánh lễ truyền chức Linh Mục ngày 29/05/2010



Thầy Phước, thầy Tú và thầy Justin thương mến,
Thật là một niềm vui cho Tu Hội Salêdiêng, cho Giáo Hội tại Việt Nam và tại Ấn Độ với việc anh em được truyền chức linh mục và phó tế. Qua anh em, Giáo Hội, được thành lập trong Chúa Thánh Thần, nhận ra chính mình là “dấu chỉ” và “bí tích”  sự hiệp thông của Chúa Giêsu Kitô và với nhân loại. Trong anh em, Giáo Hội cử hành cuộc sống là tất cả cho Chúa Kitô, cho nhân loại, cho thế giới, biến họ thành dân mới và là dân duy nhất: dân Thiên Chúa, và là đền thờ của Chúa Thánh Thần.
Thầy Phước và thầy Tú thương mến, hôm nay hai thầy sẽ trở thành linh mục. Thầy Justin, thầy sẽ trở thành phó tế. Thiên chức anh em đón nhận là để phục vụ Chúa Giêsu Kitô giữa giới trẻ. Không phải cho chính anh em, nhưng là để hướng tới một sự hiện hữu liên tục và vững bền trong tương quan với Chúa Kitô, là thủ lãnh và linh mục tối thượng. Trong Người, anh em cử hành những dấu chỉ mang ơn cứu độ cho con người. Trong anh em, chính Chúa Kitô phục sinh sẽ hiện diện và hoạt động, giảng dạy, thánh hóa hướng dẫn. Vì thế, anh em là những hiện hữu cho Chúa Giêsu, cho tha nhân và cách đặc biệt cho người trẻ: phục vụ Chúa Kitô giữa giới trẻ và vì lợi ích của người trẻ.
Ngày nay, đặc biệt là trong một xã hội muốn loại trừ Thiên Chúa khỏi trái tim của con người, thì anh em được mời gọi là để phục vụ giới trẻ bằng cách loan báo và làm chứng cho Chúa Giêsu, là Chân LýTình Yêu. Nhiệm vụ của anh em là làm cho mọi người hiểu rằng nếu không ở lại trong Chúa Giêsu, thì sẽ không bao giờ tìm thấy ý nghĩa đầy đủ về sự hiện hữu của mình, bởi vì họ không cảm nhận được phẩm cao quý là trở nên con cái của Thiên Chúa, là người Cha duy nhất, và trở nên anh em với nhau. Nếu không có kinh nghiệm của tình Cha trao ban và đong đầy trong tâm hồn, thì cảm giác của sự cô đơn và bị bỏ rơi ngày càng tăng. Với cảm giác bồn chồn, luôn luôn tìm kiếm, nhưng không bao giờ tìm gặp, tâm hồn sẽ không bình an và không hạnh phúc. Sự bất ổn định này sẽ làm cho con người mồ côi về tinh thần và tình cảm.
Anh em thương mến, hãy ban tặng Chúa Giêsu cho những người anh em gặp gỡ trong suốt hành trình của anh em. Nhân loại cần chính Chúa Giêsu, vì họ là những người đang trong cuộc lữ hành tìm về Đấng Tuyệt Đối. Họ tìm kiếm và khát khao Người trong tâm hồn của họ, cho dẫu nhiều lúc cách vô thức. Anh em hãy làm cho họ gặp gỡ Chúa Giêsu. Sẽ là giả dối, nếu anh em chỉ trao ban chính mình, như thể anh em là “tất cả”, trong khi nhân loại cần Tình Yêu bất diệt, là “TẤT CẢ”, nghĩa là Thiên Chúa. Chỉ có tình yêu này mới có thể trợ giúp họ trong cuộc sống, trong những khó khăn và trong việc trở thành món quà cho Thiên Chúa Cha và cho tha nhân cho đến hơi thở cuối cùng của cuộc sống, ngay cả với hồng ân tử đạo.
Ở lại trong sự Khôn Ngoan mà bải đọc I nhắc đến (Châm ngôn 8, 22-31), - sự Khôn Ngoan là chính Chúa Giêsu, Ngôi Lời của Thiên Chúa, là Ánh Sáng thật đi vào thế giới –sẽ kiện cường sự khôn ngoan và trí thông minh. Như vậy, nhân loại có thể lựa chọn một tình yêu hướng tới Thiên Chúa, là Đấng Chân Thật và Thiện Hảo Tuyệt Đối. Sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa được con người đón nhận sẽ trở thành đời sống luân lý của họ trước những khủng hoảng về tư tưởng, luân lý, chính trị và kinh tế, sẽ cho phép họ vượt qua những hình thái của trào lưu tục hóa nhào nặn ra một tổng hợp thống nhất về luân lý, chia rẽ giữa luân lý cuộc sống và luân lý xã hội, giữa công bình xã hội và kinh tế, giữa đời sống cá nhân và cộng đồng, giữa công việc và sự giàu có, giữa luân lý và khoa học kỹ thuật.
Anh em thương mến, nhiệm vụ tiên quyết (in primis) của anh em là cử hành các bí tích để thánh hóa dân Thiên Chúa, làm cho họ thông dự vào Chúa Kitô, thông dự vào ý nghĩa “TẤT CẢ cho tất cả”, vào việc chiến thắng sự dữ bằng điều thiện, vào việc tha thứ của Người ngay cả khi con người xúc phạm và giết chết Người. Không phải anh em là những người cứu vớt nhân loại hay cứu vớt giới trẻ, mà anh em chỉ đơn giản là những công cụ trong bàn tay của Thiên Chúa, những công cụ cần thiết cho cuộc gặp gỡ với Đấng Cứu Độ, với Đấng thanh tẩy, giải thoát và nhân loại hóa vì thần hóa. Nhận thức này phải làm cho anh em trở nên những con người khiêm tốn, đồng thời quảng đại, nhiệt tâm và có khả năng thông truyền với tha nhân, vì các tín hữu hiểu được tầm quan trọng của sự thân mật với Con Người Mới, vì giới trẻ học cách kết hiệp cuộc sống của họ với Chúa Giêsu, để trở thành như Người, là linh mục, trở thành những con người có khả năng không chỉ tôn thờ cách hình thức, nhưng trong nội tâm, nghĩa là có khả năng trở nên thánh thiện và vô tì vết, để làm cho cuộc sống của họ trở nên “thánh thiêng”, đẹp lòng Chúa Cha và theo thánh ý của Ngài.
Để thực hiện được điều này trong mục vụ bí tích, anh em có một sự trợ giúp tuyệt vời là Don Bosco, là Cha, Thầy và Đấng sáng lập của chúng ta. Với mọi người, đặc biệt với những giới trẻ, cần thiết có sự gần gũi, đồng cảm. Đó chính là một tình thân làm cho giới trẻ cảm nghiệm được ngài yêu thương và chăm sóc họ như họ là, mong muốn những điều tốt đẹp cho họ trong Thiên Chúa.
Anh em thân mến, nhiệm vụ cao cả này đòi hỏi tâm hồn anh em hướng đến Chúa Giêsu, đòi hỏi tính kỷ luật liên tục và sự hướng thượng của các cảm xúc cũng như ý định của anh em. Không chỉ giới  trẻ, mà bản thân chúng ta cần thanh tẩy, tha thứ, đền tội, cầu nguyện liên lỉ. Trong việc mục vụ của anh em, hãy quan tâm đặc biệt đến chiều kích  truyền giáo của đời sống Kitô hữu. Với tình yêu nồng cháy đối với Chúa Giêsu, say mê  Người để có thể sống và trao ban với lòng nhiệt tâm, để vun trồng ơn gọi vững chắc trong Giáo Hội, anh em hãy giới thiệu Thiên Chúa trong nhân loại và cho dân Chúa: đó chính là luật nền tảng của linh đạo linh mục của anh em. Phương tiện ưu tiên của anh em, đồng thời là phương pháp sư phạm tiên quyết trong mục vụ là Bí Tích Hòa Giải. Qua bí tích này, giới trẻ có thể được tái sinh và tái tạo trong ước muốn của họ về điều thiện hảo và ân sủng, trong lòng nhiệt tâm tông đồ giữa các bạn trẻ và trong giáo hội và trong xã hội.
Anh em thương mến trong Don Bosco, anh em được truyền chức vào đại lễ Thiên Chúa Ba Ngôi. Một sự trùng hợp ý nghĩa. Anh em có lý do cao cả để trở thành linh mục và phó tế được của Agape, tình yêu trao ban, của sự Hiệp Thông Vô Hạn và của tương quan tinh tuyền giữa thanh thiếu niên và giới trẻ, trong lòng dân Chúa nơi anh em trở về và làm việc sau khi kết thúc giai đoạn đào luyện và học tập tại Roma. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhắc nhớ cách đặc biệt cho các sinh viên của các trường Đại Học Giáo Hoàng, một khi trải qua thời gian học tập tại “Kinh Thành Muôn Thuở”, nghĩa là tại trung tâm của Giáo Hội công giáo, có nghĩa là học cách sống của Roma trong những chiều kích của nó: đức tin, của lòng đất nhuộm máu các thánh tử đạo, đặc biệt là của thánh Phêrô và Phaolô. Roma, ngôi nhà của thánh Phêrô, nơi hít thở sự phổ quát của đức tin, nơi cảm nghiệm được sự phong phú của các nền văn hóa và các dân tộc trong Chúa Giêsu Kitô. Sống ở Roma, anh em được diễm phúc trở thành chứng nhân với sự kiên cường và gương anh hùng của Đức Giáo hoàng Benedict XVI, để loan báo tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi, là nguồn của sự khôn ngoan của cuộc sống con người trong thời hậu hiện đại. Các thông điệp của ngài - Deus Caritas Est, Spe Salvi, Caritas in Veritate - là những bài tán dương tình yêu đó, chính là nguyên lý cho “tất cả” và cho toàn bộ cấu trúc “tình bạn” trong sự hiện hữu và trong tinh thần của chúng ta,  vì vậy, “tôi” trở thành “chúng tôi” trong cuộc gặp gỡ cộng đoàn, Thiên Chúa và con người, và sự hiện hữu của chúng ta luôn là tiếng kêu khôn tả: lạy Cha, Abba!
Nhân loại sẽ ở trong hoặc là không ở trong tương quan của tình yêu này. Trong các thông điệp của Đức Thánh Cha Benedict XVI, anh em sẽ tìm gặp những hướng dẫn cho việc canh tân Phúc Âm trong thiên niên kỷ thứ ba. Anh em sẽ tìm thấy món ăn tâm linh cho anh em, và cho việc giáo dục đức tin. Anh em sẽ gặp sự Khôn Ngoan của sự sống, của tình yêu, của sự sinh ra và chết đi, và của chính bản thân anh em cũng như của tha nhân: đó là sự Khôn Ngoan mà không ai có thể ban cho anh em.  Anh em hãy đọc và suy niệm các thông điệp đó, như thế anh em có thể hướng tới nhân loại với niềm hy vọng; đồng thời tâm hồn của anh em sẽ vui mừng, hăng nồng trong tình yêu và niềm hy vọng, vì các thông điệp đó sẽ giúp anh em nhận ra sự hiện diện tích cực và tỏa sáng của Thiên Chúa là Tình Yêu ngay cả trong lịch sử khó khăn của nhân loại.  
Sự hiệp thông tình yêu chính là ở trong Thiên Chúa. Chính nhờ Ngôi Lời đã thành xác phàm, trong chính nhân loại chúng ta. Ngài đã ban Thánh Thần và Thánh Thần nhắc nhớ chúng ta. Chúng ta không cô đơn, chúng ta không tách biệt giữa chúng ta. Sự Khôn Ngoan và sự hiệp thông trong tình yêu này đã đượcThiên Chúa vun trồng và đang hoạt động trong tâm hồn mọi người. Anh em là những khí cụ của Thiên Chúa, hãy làm cho tâm hồn anh em và trái tim của giới trẻ hài hòa với trái tim của Chúa Kitô.Hãy cử hành sống động Bí Tích Thánh Thể, như việc tưởng niệm sự biến hình của chính anh em và cộng đoàn dân Chúa, để trở nên những chứng nhân tình yêu của Chúa Cha, là Đấng làm cho nhân loại trở thành một gia đình duy nhất trong Chúa Con. Chính Bí Tích Thánh Thể, bí tích tình yêu của Chúa Kitô, sẽ làm cho anh em chiêm ngắm và gặp gỡ Thiên Chúa Ba Ngôi, như thánh Augustine quan niệm. Chúng ta sống giữa giới trẻ như một sự phản ánh của vinh quang của Thiên Chúa trên trái đất này.